BLUE STRATEGY GROUP

Strategy :: Technology :: Organization :: Innovation :: Policy

Friday, February 24, 2012

NHẬN THỨC MỚI VỀ PHÁT TRIỂN VÀ TÁI CẤU TRÚC NỀN KINH TẾ



Một sự đồng thuận chung hiện nay về nhận thức sự phát triển bền vững của các quốc gia chính là sự cân bằng trong phát triển và hiệu quả chung của nền kinh tế. Đây là nhận thức mới về hiện trạng và định hình xu hướng phát triển của các quốc gia. Theo lý thuyết trước đây, phát triển kinh tế xã hội được đo bằng tăng trưởng GDP hàng năm, tức là đo lường mức độ giao dịch và tận dụng tài nguyên, do đó sẽ không thể đánh giá được hiệu quả thực sự của chỉ số tăng trưởng. Lý luận phát triển cổ điển theo mô hình kinh tế công nghiệp cũ này có gốc rễ sâu xa dựa trên giả thuyết là tài nguyên thiên nhiên là vô hạn, có thể tái tạo và nguồn lực con người là khan hiếm. Về thực chất, đây là mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng, trái ngược với sự phát triển bền vững theo chiều sâu.


Ngược lại, chúng ta đều biết rõ các nguồn tài nguyên thiên nhiên là không thể tái tạo khi đã sử dụng như than đá, dầu hỏa… chính là những nguồn năng lượng chính cho sự phát triển công nghiệp hóa của loài người cho đến nay. Đầu thế kỷ 20 loài người chỉ có khoảng  1 tỷ người thì sắp tới trên trái đất sẽ có khoảng 10 tỷ người chung sống, sẽ là một nguồn nhân lực gần như vô hạn! Các nguồn tài nguyên thiên nhiên được dự báo sẽ rất sớm bị cạn kiệt do nhu cầu quá lớn. Hiện nay các nguồn năng lượng tái sinh chỉ cung cấp chưa đến 40% nhu cầu năng lượng chung. Các nguồn năng lượng khác như đá khí mêtan đưới đáy biển có chi phí sản xuất sẽ rất cao do độ sâu khai thác lớn và tốn chi phí vận chuyển. Do đó, cần phải giảm bớt tối đa các nguồn năng lượng hoá thạch và tăng cường dùng các nguồn năng lượng tái tạo mới như địa nhiệt, phong điện… hướng đến sự cân bằng tổng thể trong tiêu thụ năng lượng của nền kinh tế.

Đặt sự phát triển của Việt Nam trong sự phát triển chung của thế giới, chúng ta cần nhận thức lại một số nền tảng cơ bản và xây dựng một học thuyết phát triển cho đất nước. Học thuyết phát triển mới cần đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia, xác định ra một vị thế quốc gia để đem lại giá trị  và tự hào dân tộc cho mỗi người Việt Nam. Chúng ta cần một chủ thuyết phát triển đem lại sự cân bằng giữa phát triển và bền vững, giữa dân giàu nước mạnh và xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Sự phát triển bền vững phải bao gồm sự hiệu quả của nền kinh tế, không gây tổn hại đến môi trường và hòa nhập với cộng đồng kinh tế toàn cầu nhằm đem lại lợi ích đôi bên lâu dài cho các quốc gia, hình thành một hệ sinh thái kinh tế hợp tác toàn cầu bền vững và hiệu quả.

 

Các nguồn tài nguyên tự nhiên như dầu lửa, than đá, khí đốt cần phải biến thành các sản phẩm đầu vào công nghiệp, được sử dụng và tái tạo nhiều lần. Theo nhà hóa học vĩ đại người Nga Dmitri Mendeleev, người phát minh ra bảng tuần hoàn nguyên tố hóa học, thì việc đem đốt cháy các sản phẩm này là một sự lãng phí tuyệt đối nguồn tài nguyên thiên nhiên. Việt Nam cũng có các nguồn dầu mỏ, than, khí… hiện chỉ được đem dùng làm chất đốt là rất lãng phí. Các nguồn tài nguyên này cần được đưa vào làm nguồn nguyên liệu cho các ngành hóa chất, hóa dầu để chế biến sâu đem lại các sản phẩm cao cấp như tơ sợi nhân tạo, composit, hóa chất công nghiệp… để thực hiện những việc này cần có tri thức và công nghệ từ đó hình thành sự phát triển theo chiều sâu đem lại hiệu quả kinh tế cao. Hiện nay chúng ta đang xuất thô các nguồn tài nguyên quốc gia một cách rất lãng phí. Sắp tới các nguồn nguyên liệu sẽ có giá cả ngày càng tăng do nhu cầu của thế giới là rất lớn trong khi các nguồn cung ngày càng ít và khó khai thác.

Nhận thức mới về sự phát triển là phải giảm sự lệ thuộc vào nguồn năng lượng không tái sinh và sử dụng rất tối ưu các nguồn năng lượng hiện có. Nhất thiết phải tăng cường hiệu suất sử dụng năng lượng công nghiệp nói chung, tiết giảm các ngành tiêu thụ năng lượng cao và kém hiệu quả như nấu luyện thép, xi măng. Các ngành công nghiệp hiện dùng tới hơn 80% nguồn năng lượng quốc gia, có mức tiêu thụ năng lượng bình quân cao hơn 30% các nước ASEAN. Nghĩa là hàng năm chúng ta đang mất khoảng 24% trong tổng nguồn cung năng lượng quốc gia, đây là một con số thiệt hại rất lớn cho nền kinh tế. Mặt khác, do giá cả năng lượng quá thấp cũng không tạo động lực tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng trong toàn bộ nền kinh tế, là một yếu tố làm giảm tăng trưởng bền vững.
Tốc độ tăng trưởng bền vững tối ưu của Việt Nam cần vào khoảng 6% là phù hợp. 

Với tốc độ phát triển vừa phải ta sẽ có hiệu quả sử dụng nguồn vốn tối ưu nhất và làm giảm áp lực phải huy động nguồn vốn đầu tư quá lớn. Trong thời gian sắp tới, các quốc gia đang phát triển sẽ phải cạnh tranh nhau gay gắt để có nguồn vốn phát triển kinh tế. Quốc gia nào có hiệu quả sử dụng vốn tối ưu sẽ giành được nhiều ưu thế. Trong khả năng đầu tư tối đa vào khoảng 36% GDP và nếu phân bổ tốt nguồn vốn thì hiệu quả chung nền kinh tế sẽ đạt được ICOR=6 thì tăng trưởng GDP khoảng 6% là hoàn toàn khả thi. Với tốc độ tăng trưởng 6% chúng ta sẽ đảm bảo được vấn đề xã hội rất quan trọng là vấn đề tạo việc làm. Mặt khác, với việc đẩy mạnh xuất khẩu lao động, cũng sẽ làm giảm áp lực tạo việc làm hàng năm. Lực lượng xuất khẩu lao động cũng sẽ đem lại nguồn kiều hối hàng năm rất lớn. Như vậy, việc xuất khẩu lao động cần được nhìn nhận một cách chính thức là một ngành kinh tế mũi nhọn cần được đầu tư và phát triển một cách lâu dài và có chiến lược phù hợp với việc tạo và giữ thương hiệu lao động Việt Nam, chất lượng lao động, hoàn thiện hệ thống đào tạo lao động xuất khẩu.

Một yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả chung của nền kinh tế chính là hiệu quả của hệ thống hành chính và vai trò của nhà nước. Đề án 30 về cải cách hành chính cần phải có sự đột phá trong tư duy nhằm đem lại một chính quyền hiệu quả và là động lực hỗ trợ mạnh mẽ cho phát triển kinh tế xã hội. Thực chất, chính sự kém hiệu quả của hệ thống hành chính là yếu tố làm ICOR (hệ số sử dụng vốn đầu tư) của Việt Nam hiện nay rất cao, khi toàn thể xã hội bị níu kéo bởi một hệ thống hành chính chậm chạp và quá phức tạp. Chúng ta cần tham khảo các mô hình quản trị nhà nước hiệu quả của Anh, Pháp, Singapore, Hongkong, Úc để học hỏi kinh nghiệm và mạnh dạn thí điểm áp dụng cải cách hành chính toàn diện tại Đà Nẵng, Vũng Tàu, Bình Dương, Phú Quốc, Dung Quất để đánh giá kết quả. Trên cơ sở đó hình thành một thể chế chính quyền kiến tạo phát triển cho quốc gia. Để làm được việc này cần có đột phá tư duy mạnh mẽ, cần phải xây dựng một nền hành chính hiệu quả dựa trên cơ sở quản trị hiện đại và tinh gọn, từ đó xây dựng một chính quyền điện tử mạnh và chính phủ điện tử hiệu quả. Trung Quốc cũng đã có khá nhiều kinh nghiệm xây dựng chính quyền mạnh và hiệu quả tại Bắc Kinh, Thượng Hải.

Lãng phí mang tính hệ thống khác là khối Tập đoàn kinh tế và DNNN đang nắm giữ 65% nguồn lực quốc gia, hiện có hiệu suất sử dụng nguồn vốn thấp, có thể nói là hiệu quả kinh tế âm với chỉ có vài DNNN là thực sự có chỉ số hiệu quả kinh tế EVA (Economic Value Added) dương. Do đó rất cấp thiết phải xác định các yếu tố then chốt để tái cấu trúc khối DNNN theo hướng hiệu quả, tinh gọn, hiện đại, năng lực cạnh tranh cao, có khả năng dẫn dắt chiến lược kinh tế quốc gia. Các DNNN còn phải là nơi dẫn đầu trong việc áp dụng khoa học công nghệ, sáng tạo đổi mới để có năng lực phát triển theo chiều sâu. Các nhiệm vụ cụ thể là phải hình thành sản phẩm thương hiệu quốc gia cho các nguồn lực mà DNNN đang quản lý bao gồm: dầu mỏ,khoáng sản, than đá, cà phê, cao su, lúa gạo… Khối DNNN này trước hết phải làm được công tác quản lý giá cả xuất khẩu thông qua các thông tin kịp thời về sản xuất trong nước và dự báo tốt xu hướng nhu cầu thế giới, đó chính là những tri thức và hiểu biết sâu sắc về thị trường. Định hướng chung là đến năm 2020 chúng ta sẽ có nền kinh tế phát triển hoàn thiện và cân bằng XNK. Mục tiêu chiến lược đó chỉ có thể đạt được khi tăng cường giá trị các sản phẩm xuất khẩu để cân bẳng với nhu cầu nhập khẩu các sản phẩm cho đầu vào nền kinh tế và có tiền để trả nợ ODA, FDI.

Một nhận thức mới để phát triển chính là thị trường nội địa sẽ có gần 100 triệu khách hàng, đây là một thị trường tiêu thụ khá lớn và dễ tính bên cạnh các thị trường nước ngoài đang ngày càng khó khăn hơn. Các tập đoàn nước ngoài cũng đang tăng tốc khai thác thị trường Việt Nam khi sắp đến thời hạn phải mở cửa thị trường nội địa cho các sản phẩm và dịch vụ quốc tế theo các cam kết gia nhập WTO. Sự phát triển thị trường trong nước chính là sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp, cân bằng các thị trường để không quá lệ thuộc  vào các thị trường nước ngoài. Trong các thị trường xuất khẩu, các thị trường mới nổi như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Đông Âu, Trung Đông sẽ có tốc độ tăng trưởng tốt hơn các thị trường cũ như EU, Mỹ, Nhật… Các thị trường mới này đòi hỏi doanh nghiệp phải làm tốt hơn các công tác tiếp thị, có sản phẩm phù hợp và phải có các đối tác kinh doanh tin cậy. Khi giải quyết được các vấn đề này thì hiệu quả sẽ rất lớn khi mở ra một thị trường và hướng phát triển mới.

Các sản phẩm nông nghiệp như cà phê, chè, lúa gạo, trái cây, thuỷ hải sản… cần được chế sâu hơn thành các sản phẩm có thương hiệu lớn để đem lại giá trị kinh tế cao hơn. Hiện nay, chỉ khoảng 10% các sản phẩm nông sản là được chế biến sâu và có thương hiệu. Còn lại là chủ yếu xuất thô với giá trị kinh tế không cao, cũng không kiểm soát được giá cả và thị trường tiêu thụ. Cần xem  xét các sản phẩm này là đầu vào cho các ngành kinh tế chế biến, tạo ra sản phẩm nông nghiệp cao cấp có tầm thương hiệu quốc gia như: Hoa tuylip Hà Lan, Gạo thơm Thái Lan, Chè đen Sri Lanka, Rượu vang Pháp, Chuối Bahamas…

Nông nghiệp hiện đại và bền vững được nhìn nhận là một nền nông nghiệp sinh thái, thân thiện môi trường, không lạm dụng các hoá chất và sử dụng thuốc trừ sâu một cách bừa bãi. Các sản phẩm nông nghiệp sinh thái có giá trị cao đều không dùng hoá chất độc hại mà sử dụng các chế phẩm sinh học thân thiện môi trường. Các trang trại qui mô nhỏ, có nhiều nông dân am hiểu về công nghệ nông nghiệp sinh thái sẽ có nhiều ưu thế để sản xuất ra các sản phẩm nông nghiệp sinh thái cao cấp đạt được GlobalGAP. Các quy trình sản xuất nông nghiệp sinh thái không yêu cầu nguồn vốn đầu tư lớn, tuy nhiên cần phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về sản xuất sạch, bảo vệ môi trường và kiểm soát truy nguyên nguồn gốc nông sản. Các sản phẩm nông nghiệp sinh thái đều có giá trị kinh tế rất cao và thị trường tiêu thụ ngày càng lớn. Theo Tiến sĩ nông học Nguyễn Quốc Vọng, các trang trại lớn với sản phẩm thâm canh và các sản phẩm biến đổi gien sẽ rất khó chen chân vào các thị trường cao cấp như Nhật, EU. Thậm chí các quốc gia này sẽ không cho phép các nông sản chế biến liên quan biến đổi gien được nhập khẩu. Việt Nam với chiến lược sản phẩm nông nghiệp sinh thái giá trị cao sẽ rất bất lợi nếu các sản phẩm nông nghiệp bị xem là có các thành phần biến đổi gien, thậm chí có thể bị cấm nhập khẩu vào các thị trường này như một số sự việc đã xảy ra khi Nhật cấm nhập khẩu bánh tráng Việt Nam bị phát hiện có dùng bột bắp biến đổi gien.

Về bản chất, sự phát triển theo chiều sâu chính là nền tảng của phát triển bền vững. Sự phát triển theo chiều sâu đòi hỏi phải sử dụng tri thức nhiều hơn là nguồn vốn, cần có những hiểu biết hoàn chỉnh và thông tin chính xác, với vai trò quyết định của các chuyên gia và trí thức đầu ngành. Những yếu tố này gắn bó mật thiết với việc sử dụng thông tin và ứng dụng hiệu quả CNTT và truyền thông trong toàn xã hội. Để phát triển theo chiều sâu, kinh nghiệm từ các quốc gia như Nhật, Pháp, Đức, Mỹ, Thuỵ Điển đó chính là vai trò của tri thức trong nền kinh tế. Những tri thức về công nghệ, quản trị, những chuyên gia đầu ngành đã hình thành nên những sản phẩm công nghệ cao, hệ thống quản trị hiệu quả. Nòng cốt của nền kinh tế tri thức chính là những doanh nghiệp có năng lực đổi mới và sử dụng có hiệu quả tài nguyên tri thức, là hệ thống viện nghiên cứu và các trường đại học đào tạo ra trí thức và cung cấp môi trường nghiên cứu cần thiết. Đỉnh cao tri thức của mỗi quốc gia chính là Viện Hàn Lâm Quốc Gia, nơi tập hợp trí thức tinh hoa hàng đầu, là nguồn gốc của những tư tưởng lớn và trí tuệ kiệt xuất, đem lại niềm tự hào dân tộc như Viện Hàn Lâm Quốc Gia Anh, Pháp, Nga, Thuỵ Điển. Như vậy, Viện Hàn Lâm Quốc Việt Nam sẽ là nơi tập hợp trí tuệ hàng đầu của đất nước, đóng vai trò nhận thức và phản biện cho những vấn đề then chốt mang tầm chiến lược quốc gia và đó sẽ là biểu tượng mới của tri thức và trí tuệ Việt Nam. 

Các nhà khoa học Việt Nam đã có vai trò rất lớn trong việc đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế. Thành quả của nền kinh tế nông nghiệp hiện nay chính là nhờ công sức của rất nhiều thế hệ nhà khoa học nông nghiệp Việt Nam khởi đầu từ giữa những năm 1950 của thế kỷ trước. Các thành tích quốc tế của ngành toán học, vật lý, y học… gần đây cũng đã cho thấy tiềm năng rất lớn của trí thức Việt Nam. Những kết quả tốt đẹp này chính là từ tầm nhìn chiến lược và sáng suốt của các nhà lãnh đạo trước đây, trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều khó khăn đã đầu tư một cách có hệ thống vào các ngành khoa học và các thế hệ những nhà khoa học đầu ngành. Chúng ta đang có những tập đoàn xây dựng, dầu khí, viễn thông, hàng không, du lịch thuộc nhóm đầu khu vực và thế giới, đó chính là những nền tảng quan trọng để phát triển và làm chủ kinh tế quốc gia. Những doanh nghiệp này đều có thành tích tốt trong việc sử dụng tri thức, áp dụng công nghệ cao và có hệ thống quản trị doanh nghiệp hiện đại, hiệu quả.

Trong sự phát triển của các quốc gia với các điều kiện khách quan và môi trường toàn cầu đã thay đổi một cách căn bản và được liên kết hệ thống chặt chẽ với nhau qua các thể chế kinh tế chính trị đa dạng và ngày càng phức hợp, Việt Nam cần tận dụng tối ưu các nguồn lực và ưu thế để tìm cho mình một con đường phát triển bền vững, giữ được độc lập chủ quyền kinh tế trong sự hoà hợp và kết nối toàn cầu hoá. Người Việt Nam thông minh, khéo léo và dũng cảm cần tìm cho mình một vị thế phù hợp trong một thế giới hiện đại đang phát triển nhanh chóng. Để làm được việc đó, chúng ta cần xác định cho mình một học thuyết để phát triển, một động lực để phát triển đó chính là sự phát triển bền vững của chính đất nước Việt Nam và chúng ta có niềm tin và hy vọng về một sự hoá rồng của đất nước. 

SG.02.2012

Labels: , , , , , , ,

Tuesday, November 22, 2011

TÁI CƠ CẤU VÀ MÔ HÌNH DOANH NGHIỆP HIỆN ĐẠI

Hiện nay, vấn đề tái cơ cấu (Reform hay Re-Engineering & Re-Structuring) khối các DNNN bao gồm các tập đoàn, tổng công ty 90, 91 đang là vấn đề rất được quan tâm và nằm trong ba nhiệm vụ chính của Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 2011-2015. Với 99 tổng công ty và tập đoàn kinh tế, khối DNNN đang nắm giữ những ngành kinh tế then chốt quốc gia như dầu khí, điện lực, tài chính, viễn thông, hàng không, đóng tàu, xây dựng công nghiệp, khai thác mỏ, hoá chất, lương thực, cao su, cà phê…
Vai trò của khối DNNN được xác định là: bảo đảm hoạt động sản xuất kinh doanh; nắm những ngành cơ bản, khâu then chốt quyết định để phát triển đất nước; bảo đảm cân đối vĩ mô quan trọng của nền kinh tế; sử dụng và phát huy ưu thế về kỹ thuật và công nghệ; hợp tác và cạnh tranh, liên kết và định hướng cho các thành phần kinh tế; hình thành những DNNN, tập đoàn kinh tế có khả năng vươn ra khu vực và quốc tế.
DNNN chính là thực thể kinh tế phát huy tác dụng từ dưới lên đối với chủ trương, phương hướng chính sách kinh tế của nhà nước, phối hợp các công cụ kinh tế vĩ mô khác để thực chiến lược kinh tế – xã hội và kế hoạch chiến lược của quốc gia.
Tuy nhiên, kết quả hoạt động của các DNNN hiện nay vẫn chưa tương xứng với những ưu đãi và kỳ vọng, đặt ra nhiều vấn đề về mặt tổ chức và hiệu quả hoạt động khối DNNN. Chúng ta cần phải tái cấu trúc mạnh mẽ và thực hiện đổi mới chiến lược cho khối DNNN, từ đó hình thành những tổng công ty – tập đoàn kinh tế có năng lực cạnh tranh cao, đáp ứng những nhiệm vụ chiến lược đặt ra.
DNNN đang hoạt động trong các lĩnh vực quan trọng chiến lược của quốc gia

Hiện nay, khối DNNN tồn tại các vấn đề về cơ sở pháp lý, mô hình tổ chức và cơ sở khoa học cho việc tái cấu trúc chiến lược khối DNNN.
Việc tái cấu trúc và hợp nhất thành các tổ chức kinh tế lớn theo mô hình tổng công ty – tập đoàn có đủ sức mạnh, nguồn vốn và tri thức là nhu cầu phát triển tất yếu, trên cơ sở hình thành những tổ chức kinh tế mạnh có khả năng cạnh tranh hợp tác sòng phẳng với các tập đoàn kinh tế toàn cầu.
Cấu trúc tổ chức của các tập đoàn kinh tế sẽ tuân thủ các mô hình chuẩn, hiện đại như hợp nhất theo chiều dọc chuyên ngành, tổ hợp theo chiều ngang hay cấu trúc mạng lưới. Cấu trúc tổ chức sẽ tuỳ vào đặc điểm và chiến lược phát triển của từng tập đoàn. Việc xây dựng các tập đoàn trên cơ sở tái cấu trúc khối DNNN là một đề tài lớn, đòi hỏi nhiều kiến thức quản lý và cơ sở khoa học làm nền tảng bao gồm: Lý thuyết hệ thống và kiến trúc tổ chức; Kinh tế học hệ thống và doanh nghiệp; Cơ sở quản trị hiện đại; KHCN và đổi mới sáng tạo; Toàn cầu hoá.
Cần phải dựa trên các cơ sở trình bày trên để làm nền tảng cho việc tái cấu trúc DNNN một cách khoa học và có hiệu quả. Từ đó, sẽ có lời giải cho bài toán tái cấu trúc và đổi mới khối DNNN. Theo Peter Drucker, được coi là cha đẻ của quản trị hiện đại, nhiệm vụ của doanh nghiệp sẽ bao gồm hai việc: Tạo ra thị trường tiêu thụ cho các sản phẩm và dịch vụ hiện có + sáng tạo đổi mới.
Học thuyết kinh doanh hiện nay của DNNN đã bao gồm hai nhiệm vụ chủ yếu trên kèm theo nhiệm vụ dẫn dắt chiến lược cho thị trường KHCN và chính sách kinh tế.
Những mô hình tập đoàn kinh tế hiệu quả có thể kể Viettel, VNPT, PVN là các tập đoàn có lợi nhuận và thành tích kinh doanh cao. Để sử dụng và triển khai các công nghệ viễn thông hiện đại như 3G ở nước ngoài, Viettel cần phải có năng lực quản lý kinh doanh khai thác công nghệ viễn thông quốc tế. PVN còn có năng lực về R&D khi đã có các công trình nghiên cứu về chế độ khoan khai thác các mỏ dầu khí ở Việt Nam và quốc tế, năng lực thiết kế và đóng mới các hệ thống dàn khoan dầu khí hiện đại. Cơ sở đào tạo cũng là nơi để các chuyên gia và cán bộ nghiên cứu ngành dầu khí chuyển giao tri thức kinh nghiệm, thực hiện các nghiên cứu chuyên ngành.
Đây chính là những mô hình thành công ban đầu để có thể học hỏi và nhân rộng cho các tập đoàn – tổng công ty khác.
Bài học về quản trị DNNN từ Vinashin cho thấy hệ thống quản trị DNNN sẽ phải bao gồm Hệ thống thông tin quản lý MIS và Hệ thống báo cáo quản trị doanh nghiệp theo tiêu chuẩn – cần phải được cung cấp định kỳ cho HĐQT tập đoàn kinh tế và chủ sở hữu của nó (đơn vị chủ quản hay công ty quản lý vốn Nhà nước).
Việc lãnh đạo và kiểm soát DNNN sẽ thông qua CEO và CFO.
Vai trò của CEO trong các tập đoàn kinh tế là rất quan trọng. CEO có trách nhiệm vạch ra chiến lược phát triển và thực hiện chiến lược đó thành công đem lại lợi ích kinh tế và thị trường rất lớn. Do đó, CEO cần phải được đánh giá đúng và trả công xứng đáng và gắn với thành công dài hạn của DNNN. Những CEO hàng đầu thế giới có thu nhập rất cao dựa vào thành tích của mình được đánh giá vào cuối nhiệm kỳ. Thông thường, một CEO thành công sẽ giữ hai nhiệm kỳ lãnh đạo doanh nghiệp kéo dài trong khoảng 10 năm.
DNNN nắm giữ nguốn vốn rất lớn nên vai trò giám đốc tài chính CFO là rất quan trọng. CFO có trách nhiệm kiểm soát thực hiện chiến lược tài chính, quản trị hiệu suất và kiểm soát rủi ro DNNN. CFO còn là đại diện giám sát cho chủ sở hữu. CFO có chiến lược phân bổ linh hoạt hợp lý nguồn tài chính sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp.
Để thực hiện chiến lược và kiểm soát hiệu suất hiệu quả DNNN, cần phải có hệ thống thông tin quản trị hiện đại và đồng bộ để hợp nhất thông tin trong tập đoàn, từ đó cho phép DNNN nắm được thông tin về hiệu suất hoạt động, hệ thống kiểm soát chiến lược và cung cấp thông tin sản phẩm thị trường mới cho doanh nghiệp.
Đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trên cơ sở đánh giá giá trị kinh tế gia tăng là lợi nhuận sau thuế trừ đi chi phí sử dụng vốn. Trên cơ sở đánh đó sẽ biết được hiệu quả kinh tế thực sự của DNNN. Công cụ hiện đại nhất để có thông tin năng suất là so sánh đối chuẩn Benchmarking, để so sánh hiệu quả của doanh nghiệp và các doanh nghiệp tốt nhất, doanh nghiệp trung bình của ngành.
Một chỉ tiêu quan trọng đánh giá DNNN khác chính là khả năng đổi mới và sáng tạo thông qua hệ thống tri thức doanh nghiệp, bằng phát minh sáng chế và năng lực R&D. Nguồn lực doanh nghiệp quan trọng nhất chính là lực lượng chuyên gia, quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp. Lực lượng cán bộ này không cần đông nhưng cần thật sự giỏi và được đào tạo tốt, chuẩn hoá theo các chương trình MBA. Do đó, cần phải có Hệ thống quản trị nguồn nhân lực để đào tạo nguồn nhân lực doanh nghiệp, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao về nguồn nhân lực trong sự phát triển ứng dụng mạnh mẽ KHCN và Toàn cầu hoá. Ứng dụng CNTT để xây dựng hệ thống thông tin quản trị (MIS) cho khối DNNN.
Các yếu tố hạ tầng cơ sở như pháp lý, quy định và kiểm soát nội bộ cũng cần được hoàn thiện song song cùng với các yếu tố kiến trúc hệ thống DNNN. Để xây dựng hệ thống quản trị doanh nghiệp tiên tiến một cách hiệu quả và ít rủi ro, cần học hỏi kinh nghiệm thực tế và tham khảo hay thuê các chuyên gia có kinh nghiệm từ các công ty tư vấn quản trị, tư vấn chiến lược, tư vấn tái cấu trúc. Triển khai các hệ thống quản trị kiểm soát rủi ro và xây dựng hệ thống báo cáo thống kê tài chính doanh nghiệp theo chuẩn mực quốc tế nhằm có số liệu chính xác trung thực về hoạt động của DNNN.
Trong những năm 2000 Trung Quốc đã thực hiện tái cấu trúc và đổi mới khối DNNN và có những thành công ban đầu với những Tập đoàn kinh tế – KHCN hàng đầu như Huawei, Levono, Haier, Sina, China Mobile… Các tập đoàn này cạnh tranh mạnh mẽ với các tập đoàn Âu – Mỹ như CISCO, IBM, Google… Hiện có 39 công ty từ khối DNNN trước đây nằm trong danh sách các công ty lớn nhất thế giới do Fortune xếp hạng năm 2010.
Việc xây dựng chiến lược kiến trúc doanh nghiệp để xác định năng lực cạnh tranh, công nghệ và tổ chức cho khối DNNN là một nhu cầu khách quan và tất yếu trong việc hình thành một kiến trúc nền tảng để tái cấu trúc và đổi mới khối DNNN. Trong thời gian 10 năm tới, chúng ta sẽ có những tập đoàn kinh tế Việt Nam đủ sức nằm trong TOP những doanh nghiệp hàng đầu thế giới.
SG.2011

Labels: , , , , , , , , , ,

Thursday, November 17, 2011

TÁI CƠ CẤU THEO HƯỚNG XÂY DỰNG KIẾN TRÚC DOANH NGHIỆP


Ngày 17/11/2011, Diễn đàn Thương mại điện tử Việt Nam 2011 (EcomBiz 2011) do Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin (TMĐT và CNTT), Bộ Công Thương chủ trì đã được tổ chức tại Hà Nội với chủ đề: Tái cơ cấu theo hướng xây dựng kiến trúc doanh nghiệp (KTDN).



 

Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh, để ứng phó với những diễn biến khó lường của kinh tế thế giới Việt Nam cũng không tránh khỏi những nguy cơ, vì thế, ngay từ thời điểm này các DN phải triển khai tái cơ cấu có hiệu quả. Tái cơ cấu theo hướng xây dựng kiến trúc DN là một bức tranh kiến trúc đa chiều thể hiện các bộ phận cấu thành nên một DN và mối quan hệ giữa các bộ phận. Trong kiến trúc DN hoạt động chuyên môn và công nghệ thông tin (CNTT) được sắp xếp một cách đồng bộ trong tầm nhìn chiến lược chung của DN. Từ đó, yêu cầu đặt ra với DN Việt Nam trong mục tiêu tái cơ cấu là ứng dụng CNTT vào phát triển TMĐT một cách có hiệu quả.

Thứ trưởng nhấn mạnh, diễn đàn cần tập trung thảo luận sâu về vai trò của kiến trúc DN trong việc hoạch định chiến lược kinh doanh giai đoan 2011- 2015, đáp ứng yêu cầu về tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng nêu tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 11. Các tập đoàn, công ty, hệ thống ngân hàng thương mại và DN là những đối tượng cần đi đầu trong công tác đổi mới và xây dựng kiến trúc DN phù hợp với tầm nhìn kinh doanh trong 5 năm tới.



Bà Judith Jones- Giám đốc điều hành Tổ chức Architecting the Enterprise- cho biết: Trong thời đại ngày nay, để thiết lập một nền tảng nhằm thúc đẩy khả năng sinh lợi và tăng trưởng cho DN, đồng thời để đẩy mạnh vai trò hỗ trợ của CNTT, các DN trên thế giới ngày càng quan tâm tới việc xây dựng kiến trúc DN (Enterprise Architecture).
 

Kiến trúc DN đặc tả mối quan hệ giữa kiến trúc của hệ thống CNTT và kiến trúc của hệ thống nghiệp vụ; mô tả cách thức hai kiến trúc này tương hợp với nhau để hệ thống CNTT hỗ trợ một cách có hiệu quả cho hệ thống nghiệp vụ. Kiến trúc DN kết nối các bộ phận khác nhau, cho phép giao tiếp, công tác, chia sẻ trong DN và tạo ra những giá trị lớn hơn từ việc đầu tư ứng dụng cho CNTT.Cũng theo bà Judith Jones, tại thời điểm này phương pháp TOGAF (khung kiến trúc DN) giúp xây dựng kiến trúc DN và tầm quan trọng của kiến trúc DN trong công cuộc tái cấu trúc, nhất là trong bối cảnh hội nhập, được đánh giá là giải pháp phù hợp nhất với DN Việt Nam.

Cũng tại diễn đàn, báo cáo về TMĐT Việt Nam giai đoạn 2011- 2015, ông Trần Hữu Linh- Cục trưởng Cục TMĐT và CNTT, Bộ Công Thương- cho biết, phát triển TMĐT giai đoạn mới sẽ kế thừa và phát huy những kết quả đạt được, đề ra mục tiêu, chính sách, giải pháp cụ thể để đưa TMĐT Việt Nam lên một tầm mới.

Lan Anh - baocongthuong.com.vn

Labels: , , , , , , ,

Sunday, March 20, 2011

Cá chép hoá rồng và động lực sáng tạo đổi mới


Trong sự vận động phát triển liên tục của văn minh và tiến bộ, sáng tạo và đổi mới chính là động lực quan trọng nhất. Thông qua sáng tạo đổi mới, những tiến bộ trong kinh tế, văn hoá, chính trị, quân sự, khoa học, công nghệ… đã được áp dụng và triển khai, đem lại sức mạnh cho các tổ chức, quốc gia. Có thể thấy những quốc gia hiện nay rất thành công theo mô hình này bao gồm Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản, Italia, Mỹ và tới đây sẽ là Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Nga.
Kinh nghiệm sáng tạo đổi mới quốc gia
Theo nhà nghiên cứu lịch sử khoa học Thomas Kuhn, sự phát triển và tiến bộ thông qua thay đổi về mẫu hình kiến trúc tổ chức hệ thống (Paradigm Shift) thường chỉ xảy ra sau khi có sự chuyển giao giữa các thế hệ. Tuy nhiên, có những hệ thống về nhận thức và giá trị của tổ chức lại mang tính nguyên lý cơ bản và giá trị lâu dài, do đó không thay đổi thông qua việc chuyển giao giữa các thế  hệ. Một ví dụ của nền tảng giá trị này chính là hệ giá trị tư tưởng và triết lý của Khổng Tử vẫn còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nước Đông Á đến tận ngày nay.
Trong xu hướng phát triển và sự tương tác giao thoa giữa các nền văn mình thế giới thì những điều kiện khách quan và chủ quan cũng sẽ thay đổi. Có thể nhận thấy điều này qua các tiên đoán của Naisbitt về xu hướng thay đổi toàn cầu (Megatrends) mang tính vĩ mô, những động lực thay đổi vi mô của các tổ chức theo các nghiên cứu Prahalad và Gary Hamel. Điểm chung của các xu hướng chính là sự thay đổi và tiến bộ là tất yếu, không thể đảo ngược. Cơ sở để thành công là nắm bắt được xu hướng phát triển và động lực tiến bộ.
Lịch sử cho thấy, những nền văn minh đã có thời kỳ phát triển và thành công rực rỡ nếu không thay đổi bắt kịp với xu hướng của thời đại nhất định sẽ suy tàn. Có thể thấy thông qua những sự thất bại và suy tàn của triều đại nhà Thanh là triều đại phong kiến hùng mạnh nhất, sự sụp đổ của đế quốc Anh một thời bá chủ thế giới, những tập đoàn đa quốc gia lớn bị sụp đổ và sát nhập như Digital Equipment, Compaq, SUN, Nortel…
Thành công và thất bại
Những quốc gia đổi mới thành công trong lịch sử có thể thấy ở nước Pháp với cuộc cải tổ xã hội thời Vua Luis XIV đã đưa nước Pháp trở thành quốc gia đứng hàng đầu châu Âu.
Nước Nga với cuộc cải cách thể chế của Sa hoàng Pie đại đế đã xây dựng nước Nga trở thành thế lực lớn từ một nước Nga nghèo nàn lạc hậu.
Nước Nhật với cuộc cải cách Minh trị trong sự thay đổi sâu sắc từ văn hoá phương Đông chuyển sang tiếp nhận những giá trị của phương Tây, đã đưa Nhật Bản trở thành một cường quốc hiện đại.
Những thay đổi táo bạo trong hệ thống kinh tế xã hội và KHCN của nước Mỹ sẽ đem lại sức mạnh mới cho quốc gia này đang được Tổng thống Barack Obama tiến hành mạnh mẽ… Bài học ở đây chính là dám đặt ra những nguyên tắc và giá trị mới để thành công và phải thực hiện mạnh mẽ đổi mới.
Bài học thành công của nước Mỹ trong sáng tạo chính là dám đặt ra những nguyên tắc và giá trị mới để thành công và phải thực hiện mạnh mẽ đổi mới.
Những đổi mới và cải cách mang tầm cỡ quốc gia đều làm thay đổi rất lớn đến văn hoá và kiến trúc tổ chức của các quốc gia đó. Thực tế cho thấy, sự thay đổi và đổi mới là hết sức khó khăn và lâu dài. Nhà tư tưởng chiến lược Machiavelli nhận định rằng không có gì khó khăn và rủi ro hơn là việc thực hiện đổi mới hệ thống, nhưng ông cũng cho rằng đó là việc bắt buộc phải làm để thành công. Kết quả đem lại chính là sự thay đổi tiến bộ mang tầm thể chế hệ thống và văn hoá xã hội, là cơ sở và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của quốc gia.
Vấn đề cốt lõi của sự tiến bộ từ đổi mới chính là phải nhận thức rằng khi hoàn cảnh khách quan thay đổi thì những giá trị và nguyên tắc cũng sẽ phải thay đổi. Do đó, cần phải nhận thức và sáng tạo lại hệ giá trị và văn hoá để phù hợp với hoàn cảnh mới. Đồng thời, muốn sáng tạo và đổi mới để tái tạo thành công, cần phải có một động lực mạnh mẽ.
Hiện nay, những quốc gia đổi mới sáng tạo thành công phải kể đến Phần Lan, Thuỵ Điển, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada, Singapore. Những nước được xem là thất bại trong tái tạo và đổi mới để phát triển là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, những nước Đông Âu…
Viện Hàn lâm quốc gia Việt Nam và kiến trúc cho sáng tạo đổi mới
Hệ thống năng lực đổi mới và sáng tạo quốc gia chính là cốt lõi của thành công trong sáng tạo để đổi mới và phát triển. Năng lực sáng tạo đổi mới quốc gia bao gồm:
 

(i). Hệ thống nghiên cứu quốc gia, đứng đầu phải là Viện hàn lâm quốc gia Việt Nam, là nơi tập trung những trí thức hàng đầu của đất nước, các Viện nghiên cứu, tổ chức KHCN, trường đại học nghiên cứu.
(ii). Hạ tầng kinh tế xã hội khoa học công nghệ cho sáng tạo đổi mới, các tổ chức và doanh nghiệp hoạt động sáng tạo đổi mới.
(iii). Hạ tầng pháp lý và chính sách chủ trương về sáng tạo đổi mới.
(iv). Nguồn nhân lực và các chương trình hỗ trợ sáng tạo đổi mới.
(v). Kiến trúc chiến lược về khoa học công nghệ và sáng tạo đổi mới của quốc gia.
Động lực của sự đổi mới và tiến bộ là phải là nhận thức nhu cầu tự thân của từng cá nhân, tổ chức và mỗi quốc gia. Khi có động cơ để đổi mới, con người và tổ chức sẽ đem hết tất cả năng lực của mình để thực hiện đổi mới và đạt được thành công.
Bài học để đổi mới và tái tạo thành công là phải dứt khoát bỏ đi những gì đã cản trở nhận thức đổi mới của chúng ta, hình thành hệ thống đổi mới và sáng tạo quốc gia, tạo ra những giá trị và quy tắc mới để thành công trong tình hình toàn cầu hoá hiện nay và từ đó xây dựng năng lực cạnh tranh của đất nước.
Khi cá chép vượt vũ môn để hoá rồng, nó cần phải nhả bỏ viên ngọc quý chính là hệ giá trị cũ ngoại thân đã mang theo mình trước đó và phải dùng hết sức lực bơi vượt lên dòng thác nước ngược, tạo nên sức mạnh nội tại của hệ giá trị mới, hoá rồng thành công. Cá chép nào không làm được hai điều này sẽ không thể hoá rồng, và mãi mãi vẫn chỉ là cá chép mà thôi.
Câu hỏi chính là cá chép có muốn hoá rồng hay không?
SG 03.2011

Labels: , , , ,

Tuesday, March 08, 2011

Quản trị DNNN: Hãy học Warren Buffett !



(VEF.VN) - Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi những nguyên tắc đầu tư theo giá trị và nghệ thuật quản lý danh mục đầu tư của Buffett để quản lý hiệu quả khối DNNN. Thắt chặt chi tiêu, đầu tư công là một trong những biện pháp quan trọng của Chính phủ nhằm kiểm soát lạm phát và bình ổn kinh tế vĩ mô.


Đặt DNNN vào môi trường cạnh tranh sòng phẳng

Theo số liệu của Bộ Tài chính, các tập đoàn kinh tế cùng với tổng công ty đang nắm giữ 75% tài sản cố định của quốc gia và khoảng 60% tổng nguồn tín dụng ngân hàng, chưa kể nhiều ưu đãi khác trong việc tiếp cận các nguồn lực kinh tế - xã hội.

DNNN có nhiệm vụ là các chủ lực tạo ra của cải xã hội, thông qua kiểm soát các nguồn lực kinh tế để làm các nhiệm vụ định hướng phát triển và kiểm soát tình hình kinh tế quốc gia.

Khối DNNN còn đang đảm nhận các nhiệm vụ chính trị xã hội thông qua các dịch vụ công ích, "bà đỡ" cho những vùng khó khăn. Nắm nguồn lực lớn của đất nước, song, hiệu quả hoạt động của các DNNN đang là vấn đề lớn cần xem xét.

Thực chất, DNNN chính là các tổ chức kinh tế thuộc sở hữu toàn dân, do đó đòi hỏi phải có cơ chế giám sát phù hợp, chuẩn mực điều hành và hoạt động tài chính đầu tư hiệu quả.


Việc quản lý đầu tư DNNN theo danh mục là rất cần thiết

Với trách nhiệm quản lý khối DNNN với các nhiệm vụ và lĩnh vực đa dạng, Bộ Tài chính và Bộ KH-ĐT cần phải kiểm soát và nắm được các số liệu hoạt động của khối DNNN một cách kịp thời và chính xác.

Thông qua đó, các Bộ chủ quản có thể đề ra chính sách quản lý và định hướng một cách hiệu quả. Khi Việt Nam có đơn vị quản lý vốn đầu tư tương đương trình độ như Temasek - Công ty quản lý đầu tư Quốc gia Singapore, hoàn toàn có thể chủ động tham gia sâu hơn vào công tác lãnh đạo và quản lý các DNNN.

Trong quá trình hội nhập ngày càng sâu vào WTO, yêu cầu DNNN phải nhanh chóng nâng cao sức mạnh và năng lực cạnh tranh thông qua xây dựng hệ thống quản lý hiện đại, quản trị rủi ro và khả năng thực hiện chiến lược. Từ đó, khối DNNN sẽ có đủ năng lực để cạnh tranh sòng phẳng với các tập đoàn đa quốc gia. Những DNNN hoạt động có hiệu quả cao và thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài như VNPT, Viettel, PetroVietnam với sức cạnh tranh mạnh mẽ và đã có năng lực để tiến hành hoạt động đầu tư kinh doanh ra nước ngoài.

Các bài học về thất bại và rủi ro khi đầu tư kinh doanh ngoài ngành nghề chính còn có thể thấy tại EVN và Vinashin, những thua lỗ do đầu tư tài chính chứng khoán của các tổng công ty, tập đoàn khác.

Tính đến nay, khối Tập đoàn kinh tế quốc doanh, hay gọi chung Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) của Việt Nam, có 11 tập đoàn gồm: Bưu chính - Viễn thông (VNPT), Than - Khoáng sản (Vinacomin), Dầu khí (PetroVietnam), Điện lực (EVN), Công nghiệp Tàu thủy (Vinashin), Dệt may (Vinatex), Cao su (VRG), Tài chính - Bảo hiểm (Bảo Việt), Viettel, Sông Đà và Tập đoàn Phát triển nhà - đô thị Việt Nam.

Ngoài ra, cả nước còn có 88 tổng công ty và công ty Nhà nước có quy mô lớn, tổ chức hoạt động theo hình thức mẹ - con.

Vận hành cơ chế giám sát

Rõ ràng, cần phải có một cơ chế kiểm soát để các DNNN phải xây dựng hệ thống quản lý tài chính, giám sát hoạt động chiến lược đầu tư. Cơ chế này bao gồm: áp dụng các tiêu chuẩn kế toán quốc tế IAS (International Account System) và thực hiện quản lý danh mục đầu tư của các DNNN.

Cơ chế giám sát DNNN được thực hiện thông qua người đại diện cho đơn vị chủ quản là Giám đốc tài chính - CFO. Trong các hệ thống quản lý doanh nghiệp hiện đại, CFO đóng một vai trò quan trọng trong việc quản trị hoạt động  với các nhiệm vụ:

(i) - Xây dựng hệ thống thông tin quản trị tài chính

(ii) - Quản lý giám sát thực hiện chiến lược

(iii) - Quản lý chi phí hoạt động DNNN


Theo đánh giá của ông John Yeomans, Giám đốc Công ty tư vấn Deloitte Consulting Đông Nam Á, doanh nghiệp Việt Nam còn rất thiếu các công nghệ quản lý và sử dụng CNTT trong công tác quản lý. Thông qua việc đầu tư  xây dựng hệ thống thông tin quản lý MIS (Management Information System), CFO sẽ có báo cáo tài chính giữa niên độ, báo cáo tài chính hợp nhất và danh mục đầu tư tổng hợp. Từ đó cho phép tổ chức giám sát nắm bắt tình hình hoạt động của khối DNNN được chính xác và kịp thời.

Các CFO có thể được học hỏi kinh nghiệm để có khả năng quản trị và giám sát hoạt động của DNNN thông qua hoạt động thực tế tại các đơn vị quản lý đầu tư trong nước và quốc tế như HSC, SSI, CII, VinaCapital hay Temasek. CFO nên nhận được mức thu nhập và thưởng theo thành tích công việc một cách hợp lý để có thể thu hút những cán bộ có năng lực.

Tương tự như các Tập đoàn nước ngoài, các CFO cũng nên luân phiên thay đổi đơn vị công tác trong khoảng 3-4 năm để tránh hiện tượng liên kết với hệ thống quản lý tại doanh nghiệp.

Hệ thống báo cáo tài chính theo chuẩn quốc tế

Thông qua việc triển khai áp dụng các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IAS, các số liệu hoạt động và tài chính của DNNN sẽ trở nên rõ ràng và chuẩn mực, phục vụ cho các công tác điều hành và quản trị doanh nghiệp.

Việc áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế IAS cho khối DNNN là rất cần thiết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, chính xác và chuẩn hoá của số liệu tài chính doanh nghiệp cũng như các rủi ro tài chính tín dụng của các khoản đầu tư. Đồng thời, hỗ trợ mạnh mẽ  cho quá trình cổ phần hoá và tái cấu trúc DNNN, cho phép đánh giá một cách chính xác tình trạng hoạt động của DNNN và có các biện pháp điều chỉnh cần thiết để đem lại hiệu quả hoạt động tốt nhất.

Bộ Tài chính đã có thông tư số 210/2009/TT-BTC hướng dẫn áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế IAS và IFRS về trình bày báo cáo tài chính, xác định giá trị và thuyết minh đối với công cụ tài chính.

Áp dụng tiêu chuẩn IAS, IFRS sẽ cho phép hệ thống kế toán ghi nhận lại rất chính xác và khoa học các hoạt động của DNNN mà hiện nay các tiêu chuẩn kế toán VAS của Việt Nam vẫn chưa làm được do còn đang được hoàn thiện. Việc áp dụng  các chuẩn kế toán quốc tế IAS, IFRS đòi hỏi phải có nhân lực và công nghệ hỗ trợ, tuy nhiên đó là đầu tư cần thiết và hợp lý để có được một hệ thống tài chính quản trị tiên tiến.

Khi có các thông tin tài chính quản trị theo chuẩn mực quốc tế, lãnh đạo và chủ quản DNNN có thể đánh giá kết quả và so sánh với các DN nước ngoài cùng lĩnh vực, từ đó chỉ rõ những điểm yếu cần phải cải tiến và hoàn thiện cho DNNN.

Bên cạnh các chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động thông thường như doanh số, chi phí, nguồn vốn, dòng tiền, lợi nhuận... việc đánh giá hiệu quả hoạt động DNNN sẽ bao gồm cả chỉ số hiệu quả kinh tế (Economic Profit). Đánh giá hiệu quả kinh tế sẽ cho biết những đầu tư và hoạt động của DNNN có thật sự đem lại giá trị kinh tế gia tăng hay không.




Khối DNNN Việt Nam được đánh giá là có tiềm năng phát triển rất lớn nhưng độ rủi ro cao do chưa có hệ thống quản trmạnh

Quản lý đầu tư theo danh mục


Việc hoạch định và thực hiện chiến lược đầu tư sẽ thông qua quản lý danh mục dự án đầu tư theo nguyên tắc tối ưu hoá hiệu quả đầu tư, kiểm soát  rủi ro và tránh việc đầu tư trùng lặp. Việc quản lý đầu tư theo danh mục (Portfolio Management) là phương pháp quản lý đầu tư hiệu quả được các tập đoàn hàng đầu như GE, Microsoft... áp dụng trong công tác hoạch định và kiểm soát đầu tư.

Tại Việt Nam, Bộ KH-ĐT sẽ thông qua danh mục đầu tư của các DNNN nắm được chính xác tình hình phân bổ các nguồn vốn đầu tư chiến lược, hiệu quả của việc đầu tư và từ đó có thể có các quyết định điều chỉnh cần thiết, phù hợp với quy hoạch phát triển của từng ngành.

Hiện nay, do không có hệ thống quản lý danh mục đầu tư thống nhất, nên việc quản lý thực hiện các quy hoạch chiến lược là rất kém, thường xuyên bị phá vỡ quy hoạch như quy hoạch phát triển thép, xi măng, khu công nghiệp, cảng biển, nông sản... Thông qua việc tổng hợp các quy hoạch tổng thể và các danh mục đầu tư của DNNN sẽ giúp tránh được việc đầu tư trùng lặp, dư thừa năng lực và phân bố không hợp lý.

Về nguyên tắc, khối DNNN cần được quản lý trên nguyên tắc đánh giá hiệu quả kinh tế và quản lý theo giá trị tương tự như Warren Buffett với chiến lược quản lý đầu tư theo giá trị doanh nghiệp rất thành công.

Dựa trên cơ sở lý luận quản lý đầu tư theo giá trị, Công ty quản lý quỹ đầu tư Berkshire Hathaway của Buffett là một trong những quỹ đầu tư thành công nhất từ trước đến nay. Những doanh nghiệp được Buffett đầu tư cũng có đặc điểm khá giống các DNNN, đều là những doanh nghiệp lớn, nắm những hạ tầng cơ sở và nhu cầu thiết yếu của xã hội.

Do đó, Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi những nguyên tắc đầu tư theo giá trị và nghệ thuật quản lý danh mục đầu tư của Buffett để quản lý hiệu quả khối DNNN.

Giá trị của hệ thống quản trị tài chính tiên tiến

Việc xây dựng hệ thống quản trị tài chính và quản lý danh mục đầu tư của sẽ đem lại nhiều lợi ích cho các DNNN. Với hệ thống quản trị tiên tiến, lãnh đạo DNNN hoàn toàn có khả năng kiểm soát chi tiêu đầu tư hiệu quả hơn. Hệ thống quản lý danh mục đầu tư giúp cho lãnh đạo phân bổ và kiểm soát tốt hơn các nguồn đầu tư, đánh giá được hiệu quả đầu tư tổng thể. Với các đơn vị chủ quản, nhà đầu tư, lãnh đạo DNNN hệ thống quản trị tài chính sẽ cung cấp các báo cáo tài chính kịp thời và chính xác.

Theo chủ trương của Chính phủ, sắp tới, khối DNNN sẽ phải tự phát hành trái phiếu quốc tế để có nguồn vốn đầu tư phát triển. Hiện nay, theo đánh giá của các Quỹ đầu tư quốc tế, khối DNNN có tiềm năng phát triển rất lớn nhưng có độ rủi ro cao do các số liệu và báo cáo tài chính không theo chuẩn mực quốc tế.

Năm nay, nguồn vốn đầu tư trong nước chỉ đảm bảo khoảng 30% nhu cầu, nhưng việc huy động các nguồn vốn nước ngoài cũng rất khó khăn, dù lãi suất phát hành trái phiếu quốc tế khá cao, lên đến 7-8%/năm, cao hơn trái phiếu các nước khác 1-2%.

Theo TS. Thân Thị Thu Thủy (Chủ nhiệm Bộ môn Chứng khoán - Trường ĐH Kinh tế TP.HCM), muốn phát hành trái phiếu quốc tế, DNNN phải nâng hệ số tín nhiệm thông qua áp dụng cơ chế quản trị tiên tiến và báo cáo tài chính theo những chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

Vinamilk là một điển hình quản trị doanh nghiệp thành công với đội ngũ cán bộ quản lý có năng lực, thực hiện hệ thống báo cáo tài chính, quản trị rủi ro theo tiêu chuẩn quốc tế. Đây là DN được giới đầu tư, các nhà quản lý đánh giá cao về năng lực quản lý chiến lược đầu tư, hoạt động kinh doanh hiệu quả và thông tin tài chính minh bạch.

Với giám đốc tài chính CFO có năng lực, hệ thống quản lý tài chính hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế, số liệu báo cáo chính xác kịp thời , DNNN hoàn toàn có khả năng đạt được việc quản lý và kiểm soát đầu tư tài chính và chi tiêu hiệu quả tương đương khối doanh nghiệp nước ngoài, đem lại khả năng kiểm soát, quản trị DNNN xứng tầm là các doanh nghiệp trụ cột nền kinh tế đất nước. Với yêu cầu phải phát triển mạnh mẽ khối DNNN, việc đầu tư trang bị hệ thống quản trị tài chính tiên tiến là một việc bắt buộc phải làm.

Nguyễn Anh Tiến

Labels: , , , , , , , ,

Saturday, September 27, 2008

Tái lập hay tái cấu trúc?



(TBKTSG) - "Cần phải tái cấu trúc thôi!”, “Cần phải tái lập thôi!” - đó là những câu mà nhiều lãnh đạo doanh nghiệp và cả nhân viên thường thốt lên trong thời gian gần đây khi gặp những khó khăn, trở ngại trong công tác quản lý, điều hành hoặc khi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp phải những khó khăn, đình trệ.

“Tái cấu trúc” (Restructuring) và “Tái lập” (Re-engineering/ Recreating) được nhiều người hiểu một cách chung chung là quá trình thực hiện những thay đổi căn bản trong doanh nghiệp nhằm giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn.

Đôi khi, những từ này được hiểu lẫn lộn với nhau và bản thân từng từ cũng có rất nhiều cách hiểu khác nhau, dẫn đến khi thực hiện, do cách làm khác nhau, kết quả đem lại khác nhau, tạo ra những cuộc tranh luận bất tận giữa các chuyên gia.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin chia sẻ quan điểm và cách nhìn rõ hơn về các cụm từ đang là “mốt thời thượng” này.

“Restructuring” (thường được dịch là “tái cấu trúc”) là quá trình tổ chức (re-organize), sắp xếp lại doanh nghiệp nhằm tạo ra “trạng thái” tốt hơn cho doanh nghiệp để thực hiện những mục tiêu đề ra.

Mục tiêu chung của tái cấu trúc là đạt được một “thể trạng tốt hơn” cho doanh nghiệp để doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn dựa trên những nền tảng về sứ mệnh, tầm nhìn, định hướng chiến lược sẵn có của doanh nghiệp. Tuy vậy, trong nhiều trường hợp, tái cấu trúc có thể chỉ nhằm mục tiêu đạt được sự “cải thiện vận hành” ở một mảng nào đó trong tổ chức, doanh nghiệp.

Một chương trình tái cấu trúc toàn diện sẽ bao trùm hầu hết các lĩnh vực như cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực, cơ chế quản lý, điều hành; các hoạt động và các quá trình; các nguồn lực khác của doanh nghiệp. Tái cấu trúc cũng có thể được triển khai “cục bộ” tại một hay nhiều mảng của doanh nghiệp (tài chính, nhân sự, bán hàng, sản xuất…) nhằm đạt mục tiêu là nâng cao “thể trạng” của bộ phận đó.

“Re-engineering” (được một số người dịch là “tái lập”) là quá trình thiết kế lại (redesign) tận gốc các quá trình (processes) trong doanh nghiệp, đặc biệt là các quá trình kinh doanh (business processes) nhằm giúp cho tổ chức hoạt động hiệu quả hơn.

Mục tiêu của “re-engineering” là tạo ra những quy trình được thiết kế lại tốt hơn, giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, cũng dựa trên những nền tảng về sứ mệnh, tầm nhìn, định hướng chiến lược sẵn có của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, khi nói đến khái niệm “recreating” (đây mới đúng nghĩa là “tái lập”) thì mọi việc trở thành khác đi. Một quá trình tái lập đúng nghĩa và trọn vẹn phải bao gồm ít nhất ba bước chính sau: tư duy lại (rethinking); thiết kế lại (redesigning) và xây dựng lại (rebuilding).

Tư duy lại là “suy gẫm” lại về môi trường, thị trường và doanh nghiệp.

Môi trường là môi trường mà doanh nghiệp đang tồn tại hoặc sẽ hướng đến, bao gồm các yếu tố vĩ mô như chính trị, pháp lý, kinh tế, xã hội, công nghệ… Thị trường là thị trường mà doanh nghiệp đang hoạt động, bao gồm dung lượng của thị trường, mức tăng trưởng, xu hướng tiêu dùng, phân khúc thị trường và thị trường mục tiêu, các tác lực ảnh hưởng (sản phẩm thay thế, đối thủ tiềm năng và hiện tại, sức ép từ khách hàng, sức ép từ nhà cung cấp…), thương hiệu, hệ thống phân phối… Doanh nghiệp là chính bản thân doanh nghiệp, bao gồm cơ cấu tổ chức, hệ thống quản trị, các nguồn lực, hoạt động, quá trình…

Khi “tư duy lại”, chúng ta cần thu thập và phân tích rất kỹ những thông tin của môi trường bên ngoài và bên trong doanh nghiệp để có những giải pháp tốt nhất cho doanh nghiệp. Kết quả của “tư duy lại” có thể là một trong các phương án sau:

- Tiếp tục các bước tiếp theo, tức thiết kế lại, xây dựng lại;
- Chuyển đổi ngành nghề, loại hình hoạt động;
- Án binh bất động - tạm thời chưa làm gì;
- Tái cấu trúc (restructuring);
- Rút lui từng phần hay toàn bộ (exit strategy)

“Thiết kế lại” là “vẽ” lại toàn bộ bức tranh tổng thể và chi tiết về doanh nghiệp, đi từ triết lý kinh doanh, sứ mệnh, tầm nhìn, giá trị cốt lõi, các chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực hành vi, văn hóa doanh nghiệp, mục tiêu, định hướng chiến lược, chiến lược công ty… cho đến cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý điều hành, các hoạt động, quá trình, các nguồn lực….

“Thiết kế lại” là để cho ra đời một “bản vẽ kiến trúc” mới ưu việt hơn cho tòa nhà doanh nghiệp dựa trên cơ sở những phân tích có được trong quá trình “tư duy lại” ở trên.

“Xây dựng lại” là xây dựng lại tòa nhà doanh nghiệp theo đúng thiết kế mới đã lập. Đây là một quá trình lâu dài và gian khổ, đòi hỏi sự cam kết từ phía lãnh đạo doanh nghiệp cũng như sự nỗ lực và quyết tâm cao của toàn thể cán bộ, nhân viên. Kết quả của quá trình “xây dựng lại” phụ thuộc rất nhiều vào “vật liệu”, “trang thiết bị” xây lắp, con người, “phương pháp thi công”… Vì vậy, nhiệm vụ này đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các phòng, ban, bộ phận và cần có những con người am hiểu cách thức xây dựng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Như vậy, có thể nói “tái cấu trúc” là một phần của quá trình tái lập, chủ yếu chỉ đi vào mục tiêu “nâng cao thể trạng” của doanh nghiệp trên nền tảng hiện có, trong khi đầu ra của tái lập là giải pháp tốt nhất cho doanh nghiệp, bao gồm đích đúng, con đường đúng, phương tiện đúng dựa trên một nền tảng có thể hoàn toàn mới.

Tương tự như việc “tái cấu trúc” một khách sạn chỉ là chỉnh trang, sơn sửa lại phòng ốc, bổ sung, thay các trang thiết bị, huấn luyện, đào tạo lại nhân viên hoặc thay đổi người, cải tiến cung cách phục vụ… để kinh doanh tốt hơn. Trong khi đó “tái lập” một khách sạn có thể dẫn đến việc chuyển đổi công năng (ví dụ thành cao ốc văn phòng, làm trung tâm dạy ngoại ngữ), hoặc chỉ đơn giản là bán nó đi để làm việc khác.


NGUYỄN HỮU LONG

Labels: , , ,