BLUE STRATEGY GROUP

Strategy :: Technology :: Organization :: Innovation :: Policy

Tuesday, December 15, 2015

Những trụ cột năng lực cạnh tranh quốc gia

Tuesday, July 23, 2013

Lãi suất 5% có 'cứu' được nền kinh tế?


(VIETNAMNET.VN) 2013 là năm quan trọng khi kinh tế vĩ mô đã ổn định với lãi suất đã giảm mạnh và thị trường tài chính đi vào trật tự. Tuy nhiên, các thông tin và chỉ số phát triển kinh tế vẫn là nỗi lo lớn. Chính sách lãi suất hiện nay liệu có cản trở sự phát triển?
Không lo người gửi “bỏ chạy”
Giai đoạn 2000-2009 trước đây, lãi suất huy động 8% và cho vay 12% đã có vai trò quan trọng thu hút nguồn vốn cho doanh nghiệp tập trung phát triển sản xuất, giảm tiêu dùng để giảm lạm phát. Mới đây, một vài ngân hàng đã đi trước trong việc thực hiện lãi suất huy động vào khoảng 7%, cho vay 10%-12% chứng tỏ dư địa giảm lãi suất huy động xuống 5% và cho vay xuống khoảng 7%-8% là khả thi.
Trần lãi suất huy động cần phải giảm về 5% để có thể đạt mục tiêu giảm mạnh lãi suất cho nền kinh tế. Với mức lên giá 20% của VND gần đây do neo chặt tỷ giá với USD khi USD đang lên giá với các đồng tiền khác, lạm phát dự kiến vào khoảng 8% thì người gửi vẫn sẽ để tiền trong ngân hàng. Thực tế, khi lãi suất huy động giảm xuống 7%, các ngân hàng vẫn có số dư huy động tăng khá tốt. Trần lãi cho vay sẽ được đưa về 8% với mức chênh lệch 3% dành cho chi phí hoạt động ngân hàng.
Vẫn còn dư địa để giảm lãi suất huy động xuống 5% (ảnh minh họa)
Một đặc điểm quan trọng của nền kinh tế Việt Nam là lãi suất ít có tác động đến lạm phát theo mô hình nghiên cứu định lượng lạm phát ở Việt Nam của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) năm 2012. Đó cũng là ý kiến của cựu Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển trong một hội thảo đầu tư vào tháng 4/2013. Nguyên nhân là do tín dụng tiêu dùng của Việt Nam khá thấp, chỉ chiếm 10% tổng tín dụng hệ thống. Cũng theo nghiên cứu này của NHNN, lạm phát hiện nay ở Việt Nam chủ yếu do tâm lý, tốc độ cung tiền lớn và nặng nhất là do chi tiêu công của Chính phủ. Do đó, cần hết sức tránh các biện pháp kích cầu qua chi tiêu công - vốn đã chiếm tỷ trọng lớn và vượt khỏi khả năng cung ứng của nền kinh tế.
Lần đầu tiên Việt Nam có một thị trường tài chính lành mạnh và trật tự từ tháng 7/2013 khi NHNN tất toán thị trường kinh doanh vàng của các ngân hàng thương mại. Bên cạnh đó, dự trữ ngoại tệ lớn và kiểm soát được mức độ và lượng USD trong nền kinh tế là một thành công đáng khích lệ của NHNN.
Một tác động lớn của mức lãi suất huy động 5% là sẽ có một lượng vốn VND sẽ rút ra khỏi ngân hàng để tìm nơi đầu tư. Trong ngắn hạn, sẽ có một lượng VND được rút ra khỏi ngân hàng để đi vào các kênh khác. Với lạm phát các năm tới sẽ vào khoảng dưới 5%, là mức lạm phát tối ưu để phát triển nền kinh tế Việt Nam theo ý kiến của các chuyên gia chính phủ, thì nguồn vốn VND sẽ quay trở lại ngân hàng trong trung và dài hạn.
Kích thích tiêu dùng, mua sắm
Lượng vốn rút ra còn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua tiêu dùng. Hiện nay, thị trường chứng khoán ít thu hút vốn do triển vọng kinh tế năm 2013 không tốt và tình hình kinh doanh chưa sáng sủa của các công ty niêm yết. Kênh đầu tư bất động sản đang được các ngân hàng đẩy mạnh thông qua các chương trình tín dụng kích cầu khác ngoài gói 30.000 tỷ của Chính phủ. 




Dư địa chính sách để NHNN thực hiện việc giảm lãi suất trần này là tổng mức tăng cung phương tiện thanh toán M2 còn được 10% trong năm 2013, cho phép NHNN bơm một lượng tiền ra thị trường để đảm bảo thanh khoản cho hệ thống. Việc tính toán chính xác lượng tiền cần thiết để bơm vào có thể thông qua các mô hình tính toán dự báo trên máy tính dựa vào số liệu đã có. Ngoài ra, NHNN có thể giảm lượng tiền phải bơm vào hệ thống bằng cách chỉ giảm lãi suất ở các kỳ hạn ngắn dưới 6 tháng.
Các biện pháp để tăng tưởng tín dụng như gói 30.000 tỷ cho bất động sản, phát hành trái phiếu chính phủ và hoạt động của công ty VAMC là các biện pháp thúc đẩy trong trung hạn, có thời gian tác động khá chậm, trong vòng 2-3 năm. Trong báo cáo cập nhật tăng trưởng tháng 7/2013 của WorldBank đã giảm tăng trưởng năm nay của Việt Nam xuống 5,3% chính là do tính đến thời gian tác động khá chậm của các gói thúc đẩy này.
Biện pháp nới lỏng tiền tệ thông qua giảm lãi suất sẽ có tác dụng nhanh chóng nhất cho nền kinh tế với thời gian tác động chỉ 1-3 tháng. Đây sẽ là một liều thuốc bổ, một động lực mạnh để thúc đẩy phát triển nền kinh tế, hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy tiêu dùng và phát triển thị trường nội địa.
Có thể thấy với việc giảm lãi suất huy động xuống 5%, chính sách tiền tệ có một mũi tên trúng nhiều đích bao gồm kích thích phát triển kinh tế trong năm 2013 thông qua tổng mức mở rộng tín dụng 12%. Việc tăng cung tiền thêm tương đương 5% cho tiêu dùng sẽ làm tăng lượng vốn cho thúc đẩy cung cầu tiêu dùng nội địa, làm tăng mức đóng góp của tiêu dùng vào thúc đẩy nền kinh tế. Một tác dụng rất quan trọng khác của tiêu dùng là làm tăng hiệu suất của nền kinh tế.
Trong báo cáo gần đây của WorldBank, Việt Nam có GDP tương đương theo sức mua là 322 tỷ USD và bình quân đầu người tương đương 3.600 USD, đứng vào nhóm các nước thu nhập trung bình. Trước đây chúng ta còn nghèo nên không thể tiêu dùng nội địa nhiều, hiện nay nền kinh tế Việt Nam đã có khả năng tích luỹ đủ để tăng tiêu dùng và hoàn toàn có khả xây dựng thị trường nội địa mạnh với 90 triệu dân với đa số là dân số trẻ và có nhu cầu tiêu dùng cao.
Việc giảm lãi suất trần huy động cho phép giảm mạnh lãi suất trái phiếu. Hiện nay, trái phiếu chủ yếu được huy động ở các kỳ hạn ngắn dưới 5 năm với lãi suất khoảng 8%. Khi trần lãi suất giảm xuống 5% thì sẽ huy động được trái phiếu loại dài hạn hơn 5 năm với lãi suất chỉ còn khoảng 6%. Khi đó, chi phí đáo hạn của trái phiếu sẽ giảm được 30%. Điều này rất quan trọng và có lợi cho kế hoạch phát hành và sử dụng trái phiếu của chính phủ và doanh nghiệp.
TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính - ngân hàng, khẳng định với việc giảm lãi suất, áp lực lên việc tái cấu trúc sát nhập ngân hàng cũng lớn lên, do vốn huy động chuyển từ ngân hàng yếu kém sang các ngân hàng mạnh mẽ, sẽ làm cho công việc tổ chức lành mạnh hoá ngân hàng thuận lợi hơn khi khi các nhóm lợi ích ngân hàng yếu kém bị áp lực cạnh tranh từ nhóm các ngân hàng lành mạnh.
Việc giảm lãi suất để thúc đẩy và phát triển kinh tế đòi hỏi nghệ thuật và bản lĩnh, trình độ của Chính phủ, NHNN trong việc thực hiện. Theo kinh nghiệm gần đây của kinh tế học hiện đại, các biện pháp tiền tệ sẽ có tác động mạnh nhất đến việc kích thích kinh tế khỏi trì trệ, suy thoái mà ở đây, ngân hàng trung ương đóng vai trò quan trọng.
Một cách ngắn gọn, khi thế giới đã thay đổi, chúng ta cần dứt khoát thay đổi lối tư duy đánh nhanh thắng nhanh bằng cách tăng trưởng dựa vào khẩu sang phát triển nhờ tiêu dùng nội địa để có một tăng trưởng hiệu quả và bền vững hơn.
Nguyễn Anh Tiến
SG 22/7/2013

Labels: , , ,

Sunday, March 20, 2011

Cá chép hoá rồng và động lực sáng tạo đổi mới


Trong sự vận động phát triển liên tục của văn minh và tiến bộ, sáng tạo và đổi mới chính là động lực quan trọng nhất. Thông qua sáng tạo đổi mới, những tiến bộ trong kinh tế, văn hoá, chính trị, quân sự, khoa học, công nghệ… đã được áp dụng và triển khai, đem lại sức mạnh cho các tổ chức, quốc gia. Có thể thấy những quốc gia hiện nay rất thành công theo mô hình này bao gồm Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản, Italia, Mỹ và tới đây sẽ là Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Nga.
Kinh nghiệm sáng tạo đổi mới quốc gia
Theo nhà nghiên cứu lịch sử khoa học Thomas Kuhn, sự phát triển và tiến bộ thông qua thay đổi về mẫu hình kiến trúc tổ chức hệ thống (Paradigm Shift) thường chỉ xảy ra sau khi có sự chuyển giao giữa các thế hệ. Tuy nhiên, có những hệ thống về nhận thức và giá trị của tổ chức lại mang tính nguyên lý cơ bản và giá trị lâu dài, do đó không thay đổi thông qua việc chuyển giao giữa các thế  hệ. Một ví dụ của nền tảng giá trị này chính là hệ giá trị tư tưởng và triết lý của Khổng Tử vẫn còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nước Đông Á đến tận ngày nay.
Trong xu hướng phát triển và sự tương tác giao thoa giữa các nền văn mình thế giới thì những điều kiện khách quan và chủ quan cũng sẽ thay đổi. Có thể nhận thấy điều này qua các tiên đoán của Naisbitt về xu hướng thay đổi toàn cầu (Megatrends) mang tính vĩ mô, những động lực thay đổi vi mô của các tổ chức theo các nghiên cứu Prahalad và Gary Hamel. Điểm chung của các xu hướng chính là sự thay đổi và tiến bộ là tất yếu, không thể đảo ngược. Cơ sở để thành công là nắm bắt được xu hướng phát triển và động lực tiến bộ.
Lịch sử cho thấy, những nền văn minh đã có thời kỳ phát triển và thành công rực rỡ nếu không thay đổi bắt kịp với xu hướng của thời đại nhất định sẽ suy tàn. Có thể thấy thông qua những sự thất bại và suy tàn của triều đại nhà Thanh là triều đại phong kiến hùng mạnh nhất, sự sụp đổ của đế quốc Anh một thời bá chủ thế giới, những tập đoàn đa quốc gia lớn bị sụp đổ và sát nhập như Digital Equipment, Compaq, SUN, Nortel…
Thành công và thất bại
Những quốc gia đổi mới thành công trong lịch sử có thể thấy ở nước Pháp với cuộc cải tổ xã hội thời Vua Luis XIV đã đưa nước Pháp trở thành quốc gia đứng hàng đầu châu Âu.
Nước Nga với cuộc cải cách thể chế của Sa hoàng Pie đại đế đã xây dựng nước Nga trở thành thế lực lớn từ một nước Nga nghèo nàn lạc hậu.
Nước Nhật với cuộc cải cách Minh trị trong sự thay đổi sâu sắc từ văn hoá phương Đông chuyển sang tiếp nhận những giá trị của phương Tây, đã đưa Nhật Bản trở thành một cường quốc hiện đại.
Những thay đổi táo bạo trong hệ thống kinh tế xã hội và KHCN của nước Mỹ sẽ đem lại sức mạnh mới cho quốc gia này đang được Tổng thống Barack Obama tiến hành mạnh mẽ… Bài học ở đây chính là dám đặt ra những nguyên tắc và giá trị mới để thành công và phải thực hiện mạnh mẽ đổi mới.
Bài học thành công của nước Mỹ trong sáng tạo chính là dám đặt ra những nguyên tắc và giá trị mới để thành công và phải thực hiện mạnh mẽ đổi mới.
Những đổi mới và cải cách mang tầm cỡ quốc gia đều làm thay đổi rất lớn đến văn hoá và kiến trúc tổ chức của các quốc gia đó. Thực tế cho thấy, sự thay đổi và đổi mới là hết sức khó khăn và lâu dài. Nhà tư tưởng chiến lược Machiavelli nhận định rằng không có gì khó khăn và rủi ro hơn là việc thực hiện đổi mới hệ thống, nhưng ông cũng cho rằng đó là việc bắt buộc phải làm để thành công. Kết quả đem lại chính là sự thay đổi tiến bộ mang tầm thể chế hệ thống và văn hoá xã hội, là cơ sở và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của quốc gia.
Vấn đề cốt lõi của sự tiến bộ từ đổi mới chính là phải nhận thức rằng khi hoàn cảnh khách quan thay đổi thì những giá trị và nguyên tắc cũng sẽ phải thay đổi. Do đó, cần phải nhận thức và sáng tạo lại hệ giá trị và văn hoá để phù hợp với hoàn cảnh mới. Đồng thời, muốn sáng tạo và đổi mới để tái tạo thành công, cần phải có một động lực mạnh mẽ.
Hiện nay, những quốc gia đổi mới sáng tạo thành công phải kể đến Phần Lan, Thuỵ Điển, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada, Singapore. Những nước được xem là thất bại trong tái tạo và đổi mới để phát triển là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, những nước Đông Âu…
Viện Hàn lâm quốc gia Việt Nam và kiến trúc cho sáng tạo đổi mới
Hệ thống năng lực đổi mới và sáng tạo quốc gia chính là cốt lõi của thành công trong sáng tạo để đổi mới và phát triển. Năng lực sáng tạo đổi mới quốc gia bao gồm:
 

(i). Hệ thống nghiên cứu quốc gia, đứng đầu phải là Viện hàn lâm quốc gia Việt Nam, là nơi tập trung những trí thức hàng đầu của đất nước, các Viện nghiên cứu, tổ chức KHCN, trường đại học nghiên cứu.
(ii). Hạ tầng kinh tế xã hội khoa học công nghệ cho sáng tạo đổi mới, các tổ chức và doanh nghiệp hoạt động sáng tạo đổi mới.
(iii). Hạ tầng pháp lý và chính sách chủ trương về sáng tạo đổi mới.
(iv). Nguồn nhân lực và các chương trình hỗ trợ sáng tạo đổi mới.
(v). Kiến trúc chiến lược về khoa học công nghệ và sáng tạo đổi mới của quốc gia.
Động lực của sự đổi mới và tiến bộ là phải là nhận thức nhu cầu tự thân của từng cá nhân, tổ chức và mỗi quốc gia. Khi có động cơ để đổi mới, con người và tổ chức sẽ đem hết tất cả năng lực của mình để thực hiện đổi mới và đạt được thành công.
Bài học để đổi mới và tái tạo thành công là phải dứt khoát bỏ đi những gì đã cản trở nhận thức đổi mới của chúng ta, hình thành hệ thống đổi mới và sáng tạo quốc gia, tạo ra những giá trị và quy tắc mới để thành công trong tình hình toàn cầu hoá hiện nay và từ đó xây dựng năng lực cạnh tranh của đất nước.
Khi cá chép vượt vũ môn để hoá rồng, nó cần phải nhả bỏ viên ngọc quý chính là hệ giá trị cũ ngoại thân đã mang theo mình trước đó và phải dùng hết sức lực bơi vượt lên dòng thác nước ngược, tạo nên sức mạnh nội tại của hệ giá trị mới, hoá rồng thành công. Cá chép nào không làm được hai điều này sẽ không thể hoá rồng, và mãi mãi vẫn chỉ là cá chép mà thôi.
Câu hỏi chính là cá chép có muốn hoá rồng hay không?
SG 03.2011

Labels: , , , ,

Monday, March 14, 2011

Việt Nam có nền tảng tốt để xây dựng kinh tế sáng tạo


Thế giới đang đứng trước một sự thay đổi lớn lao về cách thức tạo ra của cải và sức mạnh. Trước đây, sức mạnh được tạo ra từ nền tảng công nghiệp như cơ khí, chế tạo, hoá học, sản xuất… ngày nay sức mạnh đến từ khu vực dịch vụ, thông tin và sự sáng tạo đổi mới. Trong xu hướng phát triển của kinh tế xã hội, sự sáng tạo và đổi mới luôn đóng vai trò quan trọng. Những nhà phát minh lớn, như: Leonardo da Vinci, I.Newton, C.Darwin, A.Einstein, T.Edison, H.Ford, Steve Jobs… đã tạo ra những sự sáng tạo làm thay đổi thế giới.
Có thể nhìn thấy sự dịch chuyển sức mạnh này thông qua hình ảnh của nước Mỹ, thay vì  Boeing, GE, IBM, General Motor, Coca Cola… trước đó, thì nay hình ảnh nước Mỹ là Apple, Google, Microsoft, Facebook, Disney… Sức mạnh của nước Mỹ đã dịch chuyển từ nền kinh tế sản xuất công nghiệp sang nền kinh tế dịch vụ và sáng tạo đổi mới dựa trên nền tảng tri thức và Internet.
Việt Nam cũng đang phải lựa chọn cho mình một hướng đi và một vị trí xứng đáng trong nền kinh tế sáng tạo toàn cầu. Người Việt Nam rất thông minh và sáng tạo, những tố chất được thể hiện rất rõ trong lịch sử dân tộc, trong chiến tranh và trong thời gian hoà bình xây dựng đất nước, trong kinh doanh, trong học tập nghiên cứu khoa học với những thành tích đáng tự hào về toán học và cờ vua gần đây. Những ngành dịch vụ sáng tạo có thế mạnh của Việt Nam có thể kể đến: thiết kế, nghệ thuật, giáo dục, du lịch, biểu diễn, thời trang, mỹ thuật, thủ công, mỹ nghệ, văn hoá, ẩm thực…
Khoa học sáng tạo là gì?
Khoa học sáng tạo được nghiên cứu một cách có hệ thống và thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học do nhu cầu thực tế. Những vấn đề được quan tâm gồm nguyên lý sáng tạo, kỹ thuật sáng tạo, tâm lý học sáng tạo.
Cùng với sự phát triển của khoa học sáng tạo, việc áp dụng CNTT và máy tính đã giúp cho khoa học sáng tạo những bước phát triển mạnh mẽ. Sáng tạo học (Creatology) đã trở thành một ngành khoa học chuyên sâu có phạm vi nghiên cứu rộng lớn. Quản lý và giải quyết những vấn đề sáng tạo một cách khoa học là một vấn đề khó và phức tạp vì luôn luôn có yếu tố con người trong các hoạt động sáng tạo.
Nhà nghiên cứu X.L Rubinstein cho rằng “sự sáng tạo là hoạt động của con người tạo ra những chất liệu mới có ý nghĩa xã hội và những chất liệu mới ấy có thể là giá trị vật chất hay tinh thần“. Theo nhà tâm lý học người Mỹ Willson thì sáng tạo là “quá trình mà kết quả là tạo ra những kết hợp mới cần thiết từ các ý tưởng dạng năng lượng, các đơn vị thông tin, các khách thể hay tập hợp của hai ba yếu tố được nêu ra“. Nhà khoa học Tiệp Khắc J.H Lavsa cho rằng “sáng tạo là sự lựa chọn và sử dụng những phương tiện mới cách giải quyết mới“. Sáng tạo bao gồm những khái niệm như: tư duy sáng tạo, năng lực sáng tạo và các hoạt động sáng tạo.
Thế giới đang đứng trước một sự thay đổi lớn lao về cách thức tạo ra của cải và sức mạnh.
Tư duy sáng tạo là khả năng giải quyết vấn đề bằng cách tạo ra một cái mới bằng cách thức mới và đạt được kết quả một cách hiệu quả. Tư duy sáng tạo gần như là tài nguyên cơ bản của con người. Tư duy sáng tạo gắn liền với việc đưa ra cái mới, sáng chế mới, ý tưởng mới, phương án giải quyết mới. Tư duy sáng tạo thuộc về năng lực ra quyết định, kết hợp độc đáo, liên tưởng hay phát minh ra ý tưởng mới.
Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những cái mới hoặc giải quyết vấn đề một cách mới mẻ. Đặc trưng của năng lực sáng tạo đó là khả năng giải quyết vấn đề một cách sáng tạo, dựa trên những phẩm chất cá nhân như trí tuệ (IQ), cảm nhận (EQ), trí nhớ, động lực và ý chí cho phép giải quyết vấn đề một cách linh hoạt, độc đáo và hiệu quả.
Hoạt động sáng tạo là một hoạt động đặc biệt bao gồm nhiều thành tố khác nhau để hướng đến kết quả cuối cùng là tạo ra cái mới. Hoạt động sáng tạo đòi hỏi phải có nỗ lực, phải có động cơ sáng tạo và dựa trên năng lực sáng tạo. Hoạt động sáng tạo là một tổng thể của sáng tạo và tái tạo. Sáng tạo hướng đến những sản phẩm mang giá trị mới mẻ, trong khi tái tạo là bước đệm dưỡng sức cho hoạt động sáng tạo.
Thông minh không đồng nhất với sáng tạo
Thông minh và sáng tạo là không đồng nhất với nhau vì sáng tạo có sự ảnh hưởng mạnh hơn của các yếu tố như ý chí, xúc cảm, động cơ. Sự sáng tạo và thông minh là khác nhau ở mỗi cá nhân. Thông minh là một phần quan trọng của trí tuệ cho phép con người nhận thức thế giới một cách sâu sắc, đầy đủ và toàn diện. Sáng tạo là một thành phần khác của trí tuệ, tạo những phát minh, sáng chế, cải tiến,  sáng tác, những cái mới, có thể là những sản phẩm thuộc lĩnh vực khoa học xã hội – nghệ thuật.
Sản phẩm của trí thông minh là phát minh có thể tồn tại rất lâu dài, thậm chí vĩnh viễn, nhưng sáng chế là sản phẩm của sáng tạo thì rất nhanh được cải tiến để đi đến sáng chế mới.
Mấu chốt của hoạt động sáng tạo là ý tưởng. Ý tưởng sáng tạo dù là giản đơn hay phức tạp thì chính nó là mấu chốt của hoạt động sáng tạo vì nó là cơ sở và là đích đến của sự sáng tạo. Einstein cho rằng, ý tưởng, trực giác sáng tạo, khả năng đặt vấn đề hay câu hỏi đúng đắn (liên quan EQ) quan trọng hơn việc giải quyết vấn đề thường bao gồm các công việc liên quan đến toán học hay kinh nghiệm (liên quan IQ).
Năng lực sáng tạo được đo lường thông qua các trắc nghiệm. Quá trình này được diễn ra bằng cách đo năng lực sáng tạo khi cá nhân được kiểm tra thử thách thông qua giải quyết các nhiệm vụ đã được chuẩn hoá. Các nhiệm vụ này được thiết kế sao cho đánh giá đúng những tâm điểm của trí tuệ sáng tạo, giúp cho cá nhân bộc lộ năng lực sáng tạo của mình. Các phép thử hành vi trong trắc nghiệm sáng tạo phải chuyển thành các kích thích hành động sáng tạo của cá nhân đo lường.
Phương pháp khoa học quản lý sáng tạo
Các phương pháp nghiên cứu sáng tạo, như Phương pháp đối tượng tập trung (Method of Focal Objects) của F.Zwicky, Tư duy theo chiều ngang (Lateral thinking) của E.D.Bono, phương pháp Động não (Brainstorming) của A.Osborn, phương pháp Đối tượng tiêu chuẩn do F.Kunze nghiên cứu và phương pháp Tổng hợp (Synectic) do W.Gorden đề xuất vào năm 1960.
Phương pháp Sáu chiếc mũ sáng tạo của Edward de Bono: giúp cho chủ thể sáng tạo có được nhiều cái nhìn về một đối tượng mà những cái nhìn này sẽ khác biệt so với các cách nhìn nhận thông thường. Mỗi một chiếc mũ mang một màu sắc tượng trưng cho một dạng thức của suy nghĩ:
(1). Mũ trắng: trung tính, tập trung trên thông tin rút ra được , các dữ liệu căn cứ và những thứ cần thiết, làm sao để nhận được chúng.
(2). Mũ đỏ: nóng, tình cảm, cảm giác, cảm nhận, trực quan, những ý kiến khôg chứng minh hay giải thích lý lẽ.
(3). Mũ đen: phê phán, bình luận, tại sao sự kiện là sai, tất cả những ý kiến cảm xúc tiêu cực bi quan.
(4). Mũ vàng: tích cực, lạc quan, quan điểm tích cực, lợi ích, những điều tốt đẹp.
(5). Mũ lục: sáng tạo, đưa ra những khả năng có thể xảy ra và các giả thuyết, ý tưởng mới.
(6). Mũ xanh dương: là điều khiển, chi phối quá trình, các bước tổ chức, lãnh đạo, suy xét và các kết luận.
Quy trình sáng tạo DOIT (Define problem, Open mind and apply creative techniques, Identify the best solution, Transform): là phương pháp sáng tạo bằng cách hoạt động nhận thức tối đa vấn đề theo hướng cởi mở các ý tưởng hiện tại để hướng đến giải pháp tốt nhất dựa trên việc đánh giá và so sánh các giải pháp.
Các ý tưởng được đưa ra xem là nguồn dữ liệu cần thiết và quan trọng cho sáng tạo. Các thao tác sáng tạo đòi hỏi người sáng tạo phải theo sát, kiểm soát để có kết quả sáng tạo tốt nhất. Các bước bao gồm: (i) Xác định vấn đề (ii) Cởi mở ý tưởng và sáng tạo (iii) Xác định lời giải hay nhất (iv) Chuyển bước và thực hiện lời giải
Sơ đồ ý tưởng (Mind Map) của Tony Buzan: rất dễ dùng và được áp dụng rộng rãi trong thực tế. Sử dụng hình ảnh của sơ đồ để xâu chuỗi các thông tin theo một kết cấu nhất định nhằm nhìn nhận vấn đề hay giải quyết vấn đề theo hướng sáng tạo, gọn ghẽ, khoa học.
Được sử dụng như một phương pháp ghi nhớ chi tiết để phân tích đối tượng, tổng hợp các dữ liệu của vấn đề thành một dạng của lược đồ phân nhánh. Trên cơ sở đó, các ý tưởng sáng tạo cùng được nảy sinh dựa trên việc phát triển khi liên kết các các dữ liệu, dữ kiện. Phương pháp này hỗ trợ cho sự sáng tạo khi thực hiện động não (Brainstorming), giúp cho ý tưởng được rõ ràng khúc chiết, dễ quản lý và kiểm soát ý tưởng.
Lý thuyết sáng tạo TRIZ (Teoriya Resheniya Izobreatatelskikh Zadatch): do nhà khoa học sáng tạo Genrich Sanfovich Altshuller (Liên Xô) và các cộng sự tạo ra. Đây là lý thuyết lớn với các công cụ hoàn chỉnh nhất trong khoa học sáng tạo.
TRIZ dựa vào kết quả của một cuộc khảo sát và phân tích sâu sắc những quy luật sáng tạo cơ bản ẩn chứa bên trong những sáng chế. Lý thuyết bao gồm 9 quy luật phát trển hệ thống kỹ thuật, 40 nguyên tắc sáng tạo cơ bản để giải quyết các bài toán kỹ thuật, 76 chuẩn để giải các bài toán sáng chế. Có thể áp dụng để tiếp tục tổ hợp hoá các thành phần này theo các cách khác nhau để tạo nên những kết quả đa dạng phong phú.
Nguyên lý sáng tạo TRIZ được áp dụng trong nhiều ngành công nghiệp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm. TRIZ được áp dụng để tạo ra những tiến bộ trong ngành phần mềm, công nghệ hoá học, kiến trúc, quảng bá giáo dục. Các tập đoàn lớn như Boeing, Samsung, Johnson&Johnson… đang áp dụng TRIZ trong hoạt động quản lý sáng tạo của mình.
Hệ thống quản lý sáng tạo của Thomas Edison:
Thomas Alva Edison, nhà phát minh hàng đầu với 1093 phát minh sáng chế hữu ích như: bóng đèn điện, máy hát, tàu điện… là nhà tiên phong trong lĩnh vực quản lý sáng tạo một cách khoa học. Với biệt danh “Nhà phù thuỷ ở Menlo Park”, Edison nổi tiếng với khả năng tự học hỏi và năng lực sáng tạo mạnh mẽ. Peter Drucker, bậc thầy về quản lý đã gọi Thomas Edison là “hình mẫu lý tưởng cho mọi doanh nhân hoạt động trong lĩnh vực sáng tạo và công nghệ”. Trước Edison, việc phát minh sáng tạo là các hoạt động ngẫu nhiên và đơn lẻ. Hệ thống quản lý sáng tạo của Edison bao gồm phương pháp quản lý sáng tạo, nguyên tắc sáng tạo và những phẩm chất năng lực để sáng tạo hiệu quả.
Phương pháp quản lý sáng tạo của Thomas Edison bao gồm các nguyên lý:
(i). Tư duy hướng tới giải pháp: lấy giải pháp làm trọng tâm là cách giúp Edison luôn có rất nhiều công cụ và phương pháp để giải quyết vấn đề.
(ii). Suy nghĩ đa chiều: tư duy nhiều vấn đề cùng một lúc và xem xét vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau để có sự đa dạng trong tư duy.
(iii). Hoạt động hết mình: hoạt động hết mình với niềm đam mê và sáng tạo tối đa với nguồn năng lượng và sức khoẻ dồi dào cho phép Edison có rất nhiều phát minh sáng chế.
(iv). Sáng tạo siêu giá trị: sáng tạo hữu ích phải đến từ nhu cầu thị trường. Edison luôn phát minh và sáng tạo ra những sản phẩm thiết yếu cho cuộc sống như điện thoại, máy chiếu phim, máy hát đĩa…
Nguyên tắc sáng tạo của Edison được tóm tắt thông qua từ SMART:
(S)pecific: cần xác định những việc cần làm một cách chi tiết cụ thể.
(M)easurable: đo lường, đánh giá quá trình thực hiện như thế nào? Làm sao biết đã hoàn thành mục tiêu
(A)ccountable: hãy chịu trách nhiệm và cam kết thực hiện đầy đủ trách nhiệm để hoàn thành mục tiêu. Đảm bảo rõ ràng trách nhiệm của từng người trong nhóm.
(R)elevant: đảm bảo các mục tiêu cụ thể là phù hợp với với mục đích và giá trị ban đầu.
(T)imeline: thời hạn phải hoàn thành cho từng mục tiêu, công việc sáng tạo cần hoàn thành trong thời hạn cho phép, nếu không sẽ không còn giá trị.
Những phẩm chất và năng lực EDISON cần thiết cho sáng tạo:
(E)motional: theo kinh nghiệm của Edison, trí tuệ cảm xúc đóng vai trò quan trọng trong việc tìm lời giải sáng tạo và hoàn thành mục tiêu. Đam mê gắn với sáng tạo cho phép hoàn thành công việc tốt hơn.
(D)ecisive: sự quyết đoán trong công việc, mạnh dạn đưa ra quyết định, chấp nhập rủi ro và thử thách trong công việc và sáng tạo.
(I)ntergrated: kết hợp một cách rõ ràng thận trọng mục tiêu hiện nay có phù hợp với các định hướng khác hay không và phải đặt trên cơ sở của mục đích chung nhất. Giữ phương châm luôn luôn gắn mục tiêu với những mục đích cao cả hơn ngoài lợi ích cá nhân.
(S)ensory: sử dụng giác quan để cảm nhận và mường tượng ra quá trình thực hiện mục tiêu.
(O)ptimistic: lạc quan và thực hiện mục tiêu là một điều tất yếu.
(N)ow: xác định mục tiêu hiện tại và thực hiện ngay.
Cuối cùng, theo Edison “thành công bao gồm 99% lao động và 1% sáng tạo”. Để hoàn thiện sáng chế tạo ra pin kiềm, Edison đã tổ chức thực hiện khoảng 50.000 thí nghiệm. Trong quá trình lao động và sáng tạo, Edison đã tích luỹ được một kho kinh nghiệm và kiến thức khổng lồ. Cùng với những sách vở tư liệu được sưu tầm, kho tri thức sâu rộng này đã giúp Edison tiến hành thành công các hoạt động sáng tạo đổi mới.
Giáo dục khả năng sáng tạo
Dựa trên cơ sở nhận thức mỗi người đều có tiềm năng sáng tạo nhất định, các hoạt động sư phạm giáo dục sáng tạo nhằm tạo nên một cách có chủ ý khả năng sáng tạo hay các thành phần của năng lực sáng tạo bằng những phương pháp và những điều kiện sư phạm phù hợp. Giáo dục có vai trò đặc biệt để nâng cao và phát triển khả năng sáng tạo của con người. Giáo dục sáng tạo có hai hướng chính:
(i)- Hướng dẫn có chương trình, kế hoạch có nội dung nhằm phát triển có chủ định khả năng sáng tạo. Theo hướng này thì có hai kiểu chương trình phát triển sáng tạo được xây dựng là phát triển sáng tạo nói chung và phát triển những thành phần cụ thể của sáng tạo.
(ii)- Giáo dục loại trừ những cản trở cho sự hoạt động sáng tạo. Đây là hướng được áp dụng nhiều trong thực tế thông qua các lớp huấn luyện ngắn hạn theo chuyên đề nhằm nhận ra những yếu tố cản trở sự sáng tạo như: sự sợ hãi, tính ỳ tâm lý, các biện pháp khắc phục để thúc đẩy sự sáng tạo.
Giáo dục có vai trò rất quan trọng để nuôi dưỡng phát triển tư duy sáng tạo. Giáo dục cái mới hay nhồi nhét kiến thức sẽ không bao giờ đủ, thậm chí còn làm tắt đi khả năng sáng tạo. Giáo dục cách sáng tạo để đạt đến cái mới tìm ra cái mới là yêu cầu tối cần thiết, chính là trang bị công cụ tối ưu cho con người khả năng sáng tạo.
Bảo vệ tài sản trí tuệ và giá trị sáng tạo:
Trong các kết quả hoạt động sáng tạo của con người, những sáng chế (License) sẽ được trải qua các bước thẩm định như sau:
(1). Xác định tác giả sáng chế, cải tiến
(2). Xác định các giải pháp kỹ thuật so với chuẩn sáng chế
(3). Cấp giấy chứng nhận tác giả hoặc công nhận sáng chế (Patent)
(4). Xác định quyền chuyển nhượng hay sử dụng
(5). Bảo vệ phát minh sáng chế theo quy mô
Các tổ chức bảo vệ quyền lợi tác giả và phát minh sáng chế gồm NOIP (Cục sở hữu trí tuệ – Việt Nam), WIPO (Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới), UPSTO (Mỹ), EPO (Châu Âu) và Công ước quốc tế Berne. Thông qua các tổ chức bảo vệ phát minh và bản quyền, sự sáng tạo mới sẽ được đánh giá và trả công xứng đáng, đem lại lợi ích kinh tế cho cá nhân và tổ chức thực hiện sáng tạo đổi mới. Từ đó, có động lực thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới và sáng tạo trên quy mô toàn cầu.
Sáng tạo trong nền kinh tế tri thức toàn cầu hoá
Theo Edison, để sáng tạo cần phải có một trí tưởng tượng phong phú và nền tảng kiến thức sâu rộng. Ngày nay, Internet cung cấp một môi trường hoàn hảo cho sự sáng tạo phát triển. Thông qua Internet, chúng ta có thể học hỏi một cách có hệ thống các kiến thức cần thiết, giao lưu với các cộng đồng sáng tạo trên những diễn đàn chuyên ngành hay các cộng đồng chuyên môn CoP (Community of Practice). Internet còn là nguồn cung cấp thông tin vô tận và mới mẻ về tất cả các vấn đề trong cuộc sống.
Thông qua Internet, các ý tưởng và sáng tạo có thể được kiểm tra, gọt dũa để trở nên hoàn thiện và hữu ích. Thông qua giao dịch eCommerce, ý tưởng và sáng tạo mới được bán và cung cấp cho những khách hàng toàn cầu một cách thuận tiện và nhanh chóng. Ví dụ cụ thể là những sản phẩm, thông tin, dịch vụ, phần mềm được sáng tạo ra ở một nơi và được phân phối thông qua Internet đến tay người dùng trên khắp thế giới.
Trong cuộc vận động phát triển và toàn cầu hoá hiện nay, quốc gia nào có năng lực quản lý và sáng tạo đổi mới tốt hơn sẽ tạo ra nhiều giá trị mới và thu lại được nhiều lợi ích hơn. Việt Nam với thế mạnh nhân lực và năng lực sáng tạo, sự đầu tư mạnh mẽ cho CNTT và truyền thông đã có những nền tảng cơ sở rất tốt để xây dựng nền kinh tế sáng tạo, tạo ra giá trị cao từ những sản phẩm sáng tạo đổi mới.
Tài liệu tham khảo:
INNOVATE LIKE EDISON – (C) 2007 by Michael Gelb and Sarah Miller Caldicot. Penguin Group (USA) Inc
TÂM LÝ HỌC SÁNG TẠO – (C) 2009 NXB GIÁO DỤC VN – TG. Huỳnh Văn Sơn

Labels: , , ,

Sunday, February 20, 2011

Năm 2011 chỉ nên tăng GDP 5-6%


(VEF.VN) - Trong bối cảnh lạm phát trên thế giới có xu hướng tăng cao, Việt Nam cần cân đối trong phân bổ đầu tư giữa hạ tầng, phúc lợi công cộng và hiệu quả kinh tế từ đó có tốc độ tăng GDP hợp lý. Mức độ tăng trưởng thế nào là phù hợp với bối cảnh hiện nay cũng như năng lực sản xuất của Việt Nam?

LTS: Rất nhiều độc giả gửi ý kiến cùng tranh luận chuyên gia Bùi Kiến Thành và bài viết phản biện của TS. Nguyễn Quang A về lãi suất và CPI (chỉ số giá tiêu dùng). Diễn đàn Kinh tế Việt Nam chọn đăng bài viết của tác giả Nguyễn Anh Tiến(*), với quan điểm riêng của ông về mối quan hệ giữa lãi suất, lạm phát và tăng trưởng trong bối cảnh hiện nay . Mời độc giả tham khảo và tiếp tục tranh luận quanh chủ đề này. 

Mọi ý kiến xin gửi về: vef@vietnamnet.vn. 

Bắt buộc phải giảm lãi suất trái phiếu

Hiện nay vấn đề phát triển (tăng trưởng GDP) của Việt Nam đang phải cân nhắc giữa đầu tư cho phát triển và tiêu dùng xã hội. Trong chính sách phát triển thông qua kích cầu hiện nay của Việt Nam, chủ yếu tăng trưởng sẽ đạt được nhờ các dự án đầu tư được cấp vốn thông qua trái phiếu chính phủ. Năm 2010 số vốn đầu tư qua trái phiếu chính phủ đã lên đến 400.000 tỷ VND; với bình quân lãi suất trái phiếu VND lên đến 10% thì hàng năm, NHNN sẽ phải phát hành thêm 40.000 tỷ VND để trả lãi. Như vậy, trong năm 2010 mức tăng tín dụng do đầu tư lên đến 440.000 tỷ VND. Với tổng mức tăng trưởng tín dụng là 30% tương đương 600.000 tỷ VND (tổng tín dụng hệ thống là 2.000.000 tỷ VND), phần đầu tư của trái phiếu chính phủ đã chiếm rất lớn trong tổng tăng trưởng tín dụng hệ thống. Do đó, muốn có thêm tiền để chi tiêu các ngân hàng bắt buộc phải tăng lãi suất VND lớn hơn lãi suất trái phiếu để hút tiền về.  

Chính vì lý do cạnh tranh lẫn nhau này đã dẫn đến lãi suất trái phiếu lên đến 10% như hiện nay. Muốn giảm lãi suất ngân hàng, bắt buộc phải giảm lãi suất trái phiếu bằng cách giảm đầu tư dùng nguồn vốn trái phiếu chính phủ. Tốt nhất là lãi suất trái phiếu nên vào khoảng 5%, từ đó tính ra nhu cầu phát hành trái phiếu chính phủ cho phù hợp. Nếu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cứ tiếp tục phát hành các phương tiện thanh toán như được cho phép tăng đến 25% mà không giảm tương ứng số tiền lãi trái phiếu chính phủ đã thanh toán (là lượng VND đã phát hành thêm) thì sẽ gây lạm phát VND. Tương tự như khi các nguồn vốn lớn khoảng 3 tỷ USD (khoảng 48.000 tỷ VND) từ nước ngoài đổ vào TTCK năm 2007, NHNN đã phải bán ra lượng VND tương ứng cũng đã gây ra lạm phát do tăng cung thanh toán lớn hơn tăng GDP, gây ra CPI tăng cao trong năm 2008. 

Tuy nhiên lạm phát VND sẽ gây ra mức tăng CPI khác nhau tùy thuộc vào tình hình cụ thể trong nước và thế giới. Khó kiềm chế CPI do lạm phát Muốn giảm lạm phát phải giảm tổng cung VND. Theo công ước Basel3, vào tháng 10/2010, NHNN đã yêu cầu các ngân hàng thương mại tăng dự trữ bắt buộc VND từ 8% lên 9%, tương đương giảm 20.000 tỷ VND trong tổng cung thanh toán. 

Nếu tiếp tục tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng thương mại bằng trái phiếu có nghĩa là khối tư nhân giảm chi tiêu, để dành số tiền này cho chi tiêu đầu tư công thông qua việc NHNN sẽ tái cấp vốn này (dự trữ bắt buộc của NHTM) cho các dự án đầu tư khác hay trả lãi vay qua trái phiếu; ngân hàng thương mại sẽ nhận được lãi suất trái phiếu dự trữ bắt buộc. 

Áp lực lạm phát cũng giảm khi chỉ cho phép tăng trưởng tín dụng 20% (bình quân giai đoạn 2001-2006) thay vì 30% (bình quân giai đoạn 2007-2010) như hiện nay, có nghĩa là phải giảm mức tăng chi tiêu dùng xuống 10% tương đương khoảng 200.000 tỷ VND - số tiền (hàng hóa) này dùng cho các khoản đầu tư qua trái phiếu chính phủ hàng năm. 

Theo kế hoạch tín dụng năm 2011 của NHNN, thì mức tăng tín dụng sẽ được cho phép là 23% (có xu hướng giảm tăng tín dụng hệ thống xuống còn 20%), tăng phương tiện thanh toán là 21-24% cũng làm giảm áp lực tăng lãi suất và lạm phát trong năm tới. Với tính toán tổng thể, có thể nhận định trong thời gian tới đây tổng đầu tư qua trái phiếu chính phủ không nên vượt quá 200.000 tỷ VND/năm. 

Tuy nhiên trong kế hoạch đầu tư dùng nguồn vốn trái phiếu chính phủ năm 2011, lại thấy tổng đầu tư dùng vốn trái phiếu lên đến 600.000 tỷ VND, điều đó gây áp lực lớn lên hệ thống kinh tế. Giá cả vật tư nguyên liệu thế giới tăng 30-40% do lạm phát USD (Mỹ đã bơm 2300 tỷ USD tiền mặt vào thị trường gây ra lạm phát làm giá cả thế giới tăng cao) và do tổng dự trữ ngoại tệ khá thấp chỉ đảm bảo cho thanh toán nhập khẩu 8-10 tuần (khoảng 16 tỷ USD) gây ra thâm hụt tài khoản vãng lai. 

Lượng dự trữ USD thấp nên khi giá thế giới tăng dẫn đến thiếu USD để thanh toán ngoại hối, làm tăng giá USD so với VND trong khi USD cũng đang bị mất giá trên thế giới. Khi lượng lớn tiền VND bị hút về để mua USD sẽ làm thiếu tiền VND trong hệ thống ngân hàng, do đó các ngân hàng thương mại lại phải tăng lãi suất để hút VND về nhằm đảm bảo thanh khoản và chi tiêu. Vì vậy, tăng lãi suất VND lại có thêm nguyên nhân do thiếu USD phục vụ cho thanh toán ngoại hối. Khi các NHTM cùng tăng lãi suất để hút nguồn vốn VND và USD về mình sẽ dẫn đến cuộc chiến lãi suất giữa các ngân hàng như hiện nay. Với lãi suất cho vay VND lên đến 18%/năm, thì chỉ có những dự án siêu lợi nhuận hay thật cấp bách mới dám sử dụng, do đó sẽ làm giảm sản xuất dẫn đến giảm lượng hàng cung cấp, làm giảm tổng cung. 

Nguyên nhân tăng CPI (chỉ số giá cả chung, hàm ý bao gồm hàng hóa và nguyên liệu) là do chênh lệch cung - cầu tăng mạnh, do gia tăng đầu tư (làm tăng cầu) và lãi suất tăng cao (làm giảm cung). Lạm phát VND làm giá nguyên vật liệu trong nước tăng và lạm phát USD làm giá nguyên vật liệu nhập khẩu tăng. Như vậy lạm phát VND sẽ gây tác động kép lên CPI do giá đầu vào và giá bán ra đều tăng. 

CPI tăng do chênh lệch cung - cầu (vi mô) có thể kiểm soát một phần thông qua các chương trình bình ổn giá (như đã thực hiện tại TP.HCM và Hà Nội), tuy nhiên CPI tăng do lạm phát (vĩ mô) thì sẽ không kiềm chế được lâu. 

Để tăng dự trữ USD và giảm nhu cầu USD nhằm cân bằng thanh toán ngoại hối (tổng thu chi USD quốc gia phải cân bằng), nhằm ổn định tỷ giá USD/VND bắt buộc cả hai khối phải giảm chi tiêu USD thông qua hai cách: 

1. Tăng tỷ giá USD/VND để giảm chi tiêu của khối tư nhân do mua hàng trong nước rẻ hơn nhập khẩu và giá cả nhập khẩu tăng cao làm giảm nhu cầu tiêu dùng hàng nhập ngoại. Với giá cả nhập khẩu cứ tăng cao như hiện nay, về lâu dài nếu sử dụng hàng trong nước sẽ làm giảm đáng kể nhu cầu USD. 

2. Giảm đầu tư của khối nhà nước vì có đến 40% tổng vốn đầu tư cho các dự án này là dùng USD để nhập hàng hóa về. Nếu cứ tiếp tục mức đầu tư cao như hiện nay, sẽ không có đủ ngoại tệ để thanh toán nhập khẩu, gây áp lực lớn lên tỷ giá và dự trữ ngoại hối. Giảm đầu tư dùng trái phiếu chính phủ cũng làm giảm số lãi phải trả do đó cho phép giảm lãi suất huy động vốn cho hệ thống ngân hàng. 

Trong tương lai gần, khi Việt Nam phải thanh toán nợ USD gốc cho các dự án ODA, FDI thì nhu cầu USD (để trả nợ) lại tăng thêm, khi đó bắt buộc phải giảm chi dùng USD để trả số nợ này để giữ mức tín dụng hiện có. Vì nếu bị hạ định mức tín nhiệm tín dụng, Việt Nam sẽ phải trả lãi cao hơn cho các nguồn vốn vay ngoại tệ, hay thậm chí không phát hành được trái phiếu USD như một số tập đoàn đã gặp phải. 

Để phát triển trong ổn định vĩ mô và giảm một cách căn bản nguồn gốc tăng lãi suất, lạm phát và CPI, cần triển khai các biện pháp sau: 

- Nếu muốn có tốc độ tăng trưởng GDP cao và với nguồn vốn đầu tư hạn chế thì cần tập trung đầu tư cho các dự án có hệ số hiệu quả tăng trưởng cao trong các lĩnh vực như công nghiệp và xuất khẩu như: dệt may, giày da, chế biến, dầu khí, nông nghiệp, dịch vụ, các DN có hiệu quả kinh doanh tốt (kể cả DNNN và tư nhân). 

- Nếu vẫn giữ tốc độ tăng trưởng GDP lên đến 7,5% và đầu tư vào các khu vực có hệ số hiệu quả tăng trưởng thấp như hạ tầng (giao thông, xây dựng, bất động sản), chi tiêu công (y tế, giáo dục, chính phủ), dự án không hiệu quả thì sẽ phải dùng nhiều vốn đầu tư, dẫn đến lạm phát khi nguồn vốn không đủ. 

- Phương án nằm giữa hai phương án trên là đầu tư vào các dự án cần thiết và sắp đưa vào sử dụng để sớm đem lại hiệu quả đầu tư. Dừng đầu tư vào các dự án chưa cấp bách và bất động sản, dành vốn đầu tư cho các lĩnh vực đem lại hiệu quả cao, các lĩnh vực xuất khẩu mang về ngoại tệ. Đầu tư hợp lý cho các khối dịch vụ và phúc lợi công cộng (y tế, giáo dục, chính phủ). 

Hiện nay Việt Nam đang nhập siêu nên nền kinh tế bị áp lực kép, gây ra lạm phát cao do áp lực gia tăng đầu tư trong nước và giá cả thế giới tăng cao, khiến CPI cũng tăng theo, làm mất ổn định kinh tế vĩ mô. Với mức nhập siêu 18% kim ngạch XNK, khi giá cả nhập khẩu thấp (kinh tế thế giới suy thoái) sự phát triển do nhập khẩu với nguồn vốn rẻ sẽ đem lại hiệu quả cao. Thế nhưng, khi tình hình kinh tế thế giới phục hồi làm giá cả vật tư tăng lên thì sẽ gây lạm phát và tăng CPI làm mất ổn định nền kinh tế. Thực tế ở Việt Nam hiện nay (lạm phát và tăng CPI, áp lực mất giá nội tệ) cũng khá giống các nước ASEAN (Thái Lan, Indonesia, Malaysia) vào năm 1998 do sự phát triển nóng và đầu tư quá nhiều vào hạ tầng, làm mất cân bằng ngoại hối với USD. 

Năm 2010, các nước ASEAN đã tránh khỏi khó khăn này (lạm phát khá thấp) do sự phát triển hợp lý không còn phụ thuộc quá nhiều vào các yếu tố bên ngoài và nguồn vốn USD. Tương tự Việt Nam, Trung Quốc cũng đang phải đối mặt bài toán tốc độ tăng trưởng, lạm phát và CPI. 

Tuy nhiên, các số liệu tăng trưởng GDP và CPI của Trung Quốc có thể không tin cậy do nguyên nhân chính trị. CPI đầu năm 2011 bị điều chỉnh giảm là do nước này làm giảm trị số của nhóm hàng có giá tăng cao nhiều như thực phẩm, hàng tiêu dùng (viện lý do năm nay chỉ số CPI được điều chỉnh các trọng số trong chu kỳ 05 năm). Do đó, NDT sẽ bị giảm giá trị thực tế so với USD, trong khi tỷ giá danh nghĩa vẫn là 6,3 NDT=1 USD. 

Nếu Việt Nam tiếp tục chạy theo mở rộng đầu tư hạ tầng để có tăng trưởng GDP cao có nghĩa là phải giảm chi tiêu dùng (trong hiện tại) để dành đầu tư phát triển (cho tương lai) thì phải chấp nhận lạm phát cao, gây mất ổn định vĩ mô. Trong bối cảnh lạm phát trên thế giới có xu hướng tăng cao như hiện nay (do Mỹ muốn tiếp tục bơm các gói đầu tư QE), Việt Nam cần giảm chi tiêu đầu tư không hiệu quả, chưa thật cần thiết để tập trung nguồn vốn cho các dự án đem lại hiệu quả cao; chấp nhận mức tăng trưởng GDP hợp lý khoảng 5-6% phù hợp với cơ cấu hiện tại nền kinh tế và khả năng đầu tư của đất nước. 

Nói cách khác, Việt Nam cần cân đối trong phân bổ đầu tư giữa hạ tầng (đầu tư cho tương lai), phúc lợi công cộng (gồm y tế, giáo dục, chính phủ) và hiệu quả kinh tế cao (khối doanh nghiệp) từ đó có tốc độ tăng GDP hợp lý (khoảng 5% là phù hợp). Nếu vẫn muốn có tốc độ tăng GDP cao hơn sẽ phải chấp nhận lạm phát làm tăng mạnh CPI (nghĩa là phải giảm tiêu dùng để tăng đầu tư). 

Chỉ khi Việt Nam tái cấu trúc được nền kinh tế (gồm DNNN và DN tư nhân có hiệu quả cao, TTCK lành mạnh, năng suất lao động cao, cải cách hành chính, phúc lợi công cộng hợp lý) để có mức hiệu quả đầu tư cao (có hệ số sử dụng vốn ICOR thấp) thì lúc đó chúng ta sẽ có tốc độ tăng GDP cao và lạm phát thấp. 


(*) Tác giả hiện là tư vấn chiến lược và CNTT cho khối Chính phủ và DNNN, các tập đoàn, tổng công ty (public sector) và là chuyên gia về chính phủ điện tử (e-Government).

Labels: , , ,